LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÁNH HAY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÁNH HAY. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (Từ 30-1 đến 23-3-1971)

Chiến dịch phản công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (GPMNVN) phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 (30-1/23-3-1971) của quân đội Sài Gòn được Mỹ yểm trợ hỏa lực ở khu vực Đường 9-Nam Lào (trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và tỉnh Xa-va-na-khẹt của Lào), nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến vận chuyển chiến lược của ta, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công địch.
 Diễn biến chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Ảnh tư liệu
Tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559. Lực lượng địch có 15 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh, dù, thủy quân lục chiến, 2 lữ đoàn thiết giáp (578 xe tăng, xe bọc thép), 21 tiểu đoàn pháo binh, 1000 máy bay các loại với tổng quân số 55.000 (15.000 quân Mỹ trợ chiến); ngoài ra có hai binh đoàn (GM30, GM33) quân phái hữu Lào phối hợp tác chiến.
“Bắt sống” xe tăng địch sử dụng tiến công địch. Ảnh: Đoàn Công Tính
Chiến dịch diễn ra ba đợt. Đợt 1 (30-1/7-2), địch tiến hành nghi binh, điều động lực lượng, chuẩn bị tiến công. Ta triển khai thế trận chiến dịch, đánh nhỏ để tiêu hao, làm chậm bước tiến của địch. Đợt 2 (8-2/11-3), địch tiến quân bằng ba cánh, kết hợp với đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông và một số điểm cao ở nam, bắc Đường 9. Ta chặn đánh trên toàn khu vực, tập trung bẻ gãy cánh quân phía bắc Đường 9, đập tan mọi cố gắng của địch tiến lên Sê Pôn, buộc địch phải co về phòng ngự. Đợt 3 (12/23-3), ta tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở phía nam Đường 9, tập trung lực lượng vây ép Bản Đông. Bị uy hiếp tiêu hao lớn, địch bỏ xe, pháo luồn rừng rút chạy, ta truy kích tiêu diệt thêm một số. Kết quả diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi chiến đấu hơn 21.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo, cối, hơn 2000 súng bộ binh…
Chiến dịch Đường 9-Nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng đòn nặng vào chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.

Nguồn : Báo QĐND

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

GIẢI PHÓNG TAM KỲ

Sau khi bàn giao các vùng giải phóng cho địa phương quản lý, sáng 20.3 các đơn vị bộ đội chủ lực tham gia giải phóng Tiên Phước chia làm 3 mũi tiếp tục tiến về Tam Kỳ. Trong đó, Trung đoàn 31 và Trung đoàn 36 phụ trách mũi phía nam; Trung đoàn 1 theo mũi chính diện từ Tiên Phước xuống; Trung đoàn 38 tiến công theo mũi phía bắc từ Quán Rường vào, nhằm bao vây không cho địch chạy thoát về Đà Nẵng.


alt
Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 31 đánh chiếm tỉnh đường Quảng Tín ngày 24.3.1975.

Đến sân bay Kỳ Nghĩa (Tam Ngọc, Tam Kỳ), Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 10 (đặc công), Đại đội 3, Tiểu đoàn 15 (công binh) được giao nhiệm vụ chiếm giữ cầu Tam Kỳ và tiến đánh giải phóng Chu Lai. Các đơn vị còn lại phối hợp với bộ đội địa phương và các Đội công tác của thị xã đánh chiếm tỉnh đường Quảng Tín. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 24.3, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh tỉnh đường Quảng Tín. Tam Kỳ trở thành đô thị đầu tiên ở khu vực đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ được hoàn toàn giải phóng.
Ông Huỳnh Văn Hạnh - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 (đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) hiện đang ở tại số nhà 77 Nguyễn Thái Học, An Mỹ, Tam Kỳ bồi hồi kể, trước thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở huyện Tiên Phước, các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực tổ chức đánh địch ở các xã vùng đông huyện Thăng Bình. Chúng buộc phải co cụm lại rồi tháo chạy, tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân ta làm chủ trận địa, chia cắt liên lạc và ngăn không cho bọn chúng chi viện. Trước thời cơ đó, đêm 18.3 các Tiểu đoàn 70, 72, 74, Đại đội V12 Bắc Tam Kỳ và Bộ Tư lệnh tiền phương Tỉnh đội Quảng Nam do đồng chí Lê Hải Lý - Tỉnh đội trưởng Quảng Nam chỉ huy hành quân xuống vùng đông Thăng Bình.
Ngày 20.3 địch sử dụng 2 tiểu đoàn Cộng hòa, 2 tiểu đoàn Bảo an, 1 chi đoàn và 1 đội xe bọc thép chia làm nhiều hướng đồng loạt đánh vào các khu chợ Được - Hương Mỹ. Song trước sự hùng mạnh và dũng mãnh của Tiểu đoàn 72, quân địch thua tan tác, trận địa lại thuộc về quyền làm chủ của quân ta.
Ngày 22.3, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 ra lệnh cho Tỉnh đội sử dụng toàn bộ lực lượng đang tác chiến ở vùng đông gấp rút quay vào phối hợp tiêu diệt quân địch ở phía đông thị xã Tam Kỳ. Đêm 22.3, Tiểu đoàn 72 sử dụng Đại đội 3 phối hợp cùng hỏa lực đánh sập cầu Kỳ Phú 2, sau đó rút về đóng quân ở thôn Vĩnh Bình, xã Kỳ Anh (nay là Tam Thăng, Tam Kỳ). Cùng ngày 23.3, Tiểu đoàn 72 phối hợp Đại đội V12 Bắc Tam Kỳ đánh chiếm trận địa pháo ở Núi Cấm và tiếp tục chiếm ngã 3 Kỳ Phú (nay là ngã tư Duy Tân - Phan Châu Trinh). Sau đó tiến thẳng ra ngã ba Nam Ngãi (nay là ngã tư Trần Cao Vân - Phan Châu Trinh) phối hợp cùng Trung đoàn Ba Gia (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) tiến đánh các cơ quan đầu não của địch.
alt
Bộ đội Phòng không bảo vệ bầu trời thị xã Tam Kỳ vừa được giải phóng.
Sáng ngày 24.3, các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực từ 3 hướng đồng loạt tấn công tỉnh đường Quảng Tín. Một mũi từ Tam Xuân (Núi Thành) ra, hướng thứ hai từ Kỳ Phú tràn lên, mũi còn lại từ sân bay Kỳ Nghĩa xuống cùng với lực lượng xe tăng từ Trà Cai tiến vào. Trước sức mạnh của lực lượng cách mạng, địch hầu như đã bỏ chạy gần hết, chỉ còn súng, mũ, áo quần và các phương tiện chiến tranh vứt bừa bãi trên các trục đường trong thị xã.
Tam Kỳ được giải phóng mà gần như không có tiếng súng. Tuy nhiên đến 15 giờ cùng ngày, địch dùng máy bay phản kích. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt. Bọn chúng thất bại thảm hại, quay đầu bay về hướng Đà Nẵng. Quân và dân Tam Kỳ nhanh chóng làm chủ hoàn toàn quê hương. Đặc biệt, tập trung kiểm soát không để xảy ra tình trạng cướp bóc, chú trọng ổn định tình hình an ninh chính trị, đảm bảo an toàn cho nhân dân.
Ông Trần Xuân Hợi, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 3, thuộc Tiểu đoàn 74 pháo binh, hiện ở tại khối phố 5, Phước Hòa (Tam Kỳ) cho biết, sau khi bàn giao cho địa phương quản lý, các đơn vị bộ đội chủ lực tiếp tục tiến về giải phóng các địa phương trong tỉnh. Trung đoàn 1, Trung đoàn 31 và Lữ 52 tiến quân dọc theo tuyến đường sắt; Trung đoàn 38 đi theo tuyến đường bộ Nam - Bắc; các đơn vị còn lại tiến quân theo tuyến đường ven biển. Tiểu đoàn 74 (Tỉnh đội Quảng Nam) được nhanh chóng điều ra giữ căn cứ Tuần Dưỡng; Tiểu đoàn 72 đóng quân chốt chặn tại ngã ba Kỳ Phú; Tiểu đoàn 70 tiến quân ra Bình Sa (Thăng Bình) để phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Thăng Bình; Tiểu đoàn 11 chiếm giữ sân bay Kỳ Nghĩa. Các đại đội độc lập được phân công đóng quân theo thế chân kiềng để bảo vệ thị xã Tam Kỳ trong những ngày đầu giải phóng. Riêng Tiểu đoàn 74 làm nhiệm vụ kiểm soát tuyến đường 1 bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các lực lượng bộ đội chủ lực và các đoàn xe vận tải từ miền Bắc vào hỗ trợ giải phóng miền Nam.

Nguồn : NGUYỄN ĐIỆN NGỌC

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Chiến dịch Tiên Phước - Phước Lâm

alt
       Quân giải phóng làm chủ Chi khu quân sự Tiên Phước.                  
Ảnh tư liệu

Ngày 10.3.1975, quân ta nhận lệnh đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu để mở màn chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.
Cùng thời gian này Quân khu 5 được giao nhiệm vụ đảm nhận đánh mở màn chiến dịch Tiên Phước - Phước Lâm nhằm phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm cùng các xã vùng Đông Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ, tạo thế bao vây uy hiếp tỉnh lỵ Quảng Tín. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ công phối hợp với mặt trận Tây Nguyên và toàn chiến trường miền Nam tấn công quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm.
Địa bàn mặt trận kéo dài từ quận lỵ Phước Lâm đến Tam Kỳ, trong đó căn cứ Phước Lâm có 1 Tiểu đoàn Biệt kích, cứ điểm 211 án ngữ phía bắc bảo vệ quận lỵ Tiên Phước, phía đông có căn cứ Suối Đá gồm 1 Tiểu đoàn Bộ binh, 1 Đại đội Pháo binh và tăng thiết giáp ngụy, trên dãy Dương Con có căn cứ Chóp Nón.
Để chuẩn bị cho chiến dịch, cuối tháng 12.1974, Tiểu đoàn Công binh (Sư đoàn 2) được Tư lệnh Mặt trận giao nhiệm vụ làm công sự trận địa pháo và đường giao thông ở núi Vú Chị, Vú Em.
Qua hơn 2 tháng làm việc cật lực với hàng nghìn ngày công, tiểu đoàn làm được 6 trận địa pháo và hàng chục cây số đường từ hướng Sơn Cẩm Hà vào, sẵn sàng cho xe tăng của quân ta xuất kích và phục vụ công tác kéo pháo lên đồi.

Mặt trận được chia làm hai hướng: Phía bắc do Thượng tá Vũ Đình Nã - Sư đoàn phó làm chỉ huy trưởng, Phó Chính ủy Sư đoàn Trương Trung Thắng làm Chính ủy Mặt trận. Phía bắc được bố trí 3 trung đoàn, gồm Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 và Trung đoàn 368 pháo binh cùng các đơn vị trực thuộc gồm Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 16, các lực lượng thông tin và Tiểu đoàn Vận tải, trong đó Trung đoàn 31 làm chủ công.
Phía nam do Đại tá Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Mặt trận phụ trách, Chính ủy Sư đoàn Mai Thuận làm Chính ủy Mặt trận. Phía này, được bố trí Trung đoàn Bộ binh 1, Lữ đoàn 52, Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 10 (đặc công). Ngoài ra, phía nam còn được tăng cường Trung đoàn 572 và Tiểu đoàn Vận tải.
Phía nam chia làm 2 hướng. Hướng bắc giao Trung đoàn 36 và Tiểu đoàn 10 (đặc công) đánh Phước Lâm, hướng đông giao Tiểu đoàn 8 (Lữ đoàn 52) đánh căn cứ Suối Đá, Trung đoàn 1 cùng 3 tiểu đoàn còn lại của Lữ đoàn 52 làm dự bị sẵn sàng đánh phản kích khi cần thiết. Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 31) đánh căn cứ 211, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 38) được giao nhiệm vụ đánh đại đội địch ở Chóp Nón.

Đúng 5 giờ sáng 10.3 quân ta đồng loạt nổ súng tấn công. Đến 12 giờ cùng ngày giải phóng hoàn toàn cứ điểm 211, căn cứ Phước Lâm, Dương Con và Suối Đá. Nhận được tin các cứ điểm trên địa bàn bị thất thủ, địch trong quận lỵ Tiên Phước rối loạn, hoang mang bỏ chạy. Thừa thắng xông lên quân ta tiến thẳng về giải phóng quận lỵ Tiên Phước vào lúc 16 giờ cùng ngày.
Sau khi giải phóng quận lỵ Tiên Phước, chỉ huy mặt trận chuyển Trung đoàn 31 về đóng quân ở Suối Đá; Trung đoàn 38 chốt giữ đỉnh Dương Con; Lữ đoàn 52 rút ra làm dự bị cho Trung đoàn 1 sẵn sàng đánh địch phản kích từ hướng Tam Kỳ lên. Tuy nhiên, do bị các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp cùng đơn vị bộ đội chủ lực chốt chặn và đánh trả quyết liệt ở các cửa ngõ nên địch không thể phản kích được.
Sau 10 ngày củng cố đội hình, sáng 20.3 các đơn vị nhận lệnh tiến đánh giải phóng thị xã Tam Kỳ. “Rút kinh nghiệm từ những trận đánh trước đây ở Nông Sơn - Trung Phước, Thượng Đức, lần này 
Tư lệnh mặt trận chỉ đạo đưa 10 khẩu pháo 122 ly và 18 khẩu pháo 85 ly lên các công sự trận địa pháo trên đỉnh núi Vú Chị, Vú Em. Đây là những địa điểm có ưu thế đã được Tiểu đoàn Công binh bí mật xây dựng từ mấy tháng trước.
Các khẩu đội pháo của ta đã tập trung hỗ trợ cho các mũi tiến đánh căn cứ Suối Đá và cứ điểm 211 (riêng căn cứ Phước Lâm không dùng pháo binh mà đánh theo kiểu đặc công). Từ trên cao các khẩu đội pháo của ta dễ bề kiểm soát, chủ động nã pháo yểm trợ các đơn vị bộ binh đánh chiếm các căn cứ của địch một cách nhanh gọn và dễ dàng.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra, lực lượng pháo binh của ta phải tháo rời các khẩu pháo để khiêng vác cho nhẹ, phần còn lại của khẩu pháo thì được lực lượng kéo lên đồi vào ban đêm và nhanh chóng lắp ráp phục vụ chiến dịch đúng kế hoạch và thời gian quy định”

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Chiến dịch Nông Sơn - Trung Phước

Ảnh chỉ mang tính minh họa


Nông Sơn - Trung Phước là một trong 3 “khu chiến” trong chiến dịch Thu - 1974. Chiến dịch diễn ra trên một trận địa có diện rộng vùng đồi núi tây Quảng Nam, từ Hòn Chiêng (Quế Sơn), đến An Hòa - Đức Dục (Duy Xuyên); từ Nông Sơn-Trung Phước của Quảng Nam kéo ra đến Thượng Đức (Đại Lộc) của Quảng Đà. Chiến dịch này nhằm tiêu diệt các căn cứ địch chốt sâu trong vùng giải phóng của ta ở Nông Sơn và Thượng Đức, câu chủ lực địch ra ứng cứu giải vây để ta có thể tiêu diệt, mở rộng và củng cố vùng giải phóng, uy hiếp căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng của địch từ phía tây nam.

Căn cứ Nông Sơn chốt chặn trên một đồi cao 298 mét bên bờ sông Thu Bồn. Nơi đây có mỏ than Nông Sơn được khai thác từ thời thuộc Pháp. Phía nam sông Thu Bồn là núi Cà Tang cao 462 mét, luôn có một trung đội địch từ Nông Sơn điều sang cảnh giới cho cả vùng rộng lớn hai bên bờ sông Thu Bồn từ Thạch Bích xuống đến quận Đức Dục. Cứ điểm chốt giữa vùng giải phóng của ta, địch gây nên rất nhiều khó khăn và gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác với nhân dân vùng giải phóng Hiệp Đức - Quế Sơn.

Tham gia ở khu chiến này có Sư đoàn 2 bộ binh do sư trưởng Nguyễn Chơn chỉ huy, có Trung đoàn pháo binh 572, Trung đoàn pháo cao xạ 573. Ngoài các hoạt động phối hợp chiến trường, lực lượng của tỉnh Quảng Nam có nhiệm vụ cùng bộ đội công binh mở con đường chạy ven dưới chân các chốt điểm của địch ở Hòn Chiêng, Động Mông, Đá Hàm.

Công binh Sư đoàn 2 có xe cơ giới cùng lực lượng của các Ban giao thông và nhân dân ngày đêm ban xúc, ủi đất đắp đường. Đường thông đến đâu thì hàng vận chuyển đến đó. Để che mắt địch, ta đưa một vài xe máy cày cày xới trên cánh đồng Sơn Khánh. Tiếng xe cày nổ ầm ầm hòa trong tiếng xe ô tô vận chuyển vũ khí rùng rùng vang động núi đồi làm cho dân trong vùng vui mừng và hy vọng một trận đánh lớn sắp diễn ra.

Phục vụ chiến dịch, Tỉnh ủy Quảng Nam đã huy động 460 cán bộ các ban ngành, đoàn thể tham gia. Đồng chí Hoàng Minh Thắng, Bí thư Tỉnh ủy phụ trách chung, đồng chí Đỗ Thế Chấp lúc bấy giờ là Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách học tập các chính sách của Đảng và Mặt trận để chuẩn bị tiếp quản Nông Sơn -Trung Phước. Cùng với tinh thần tiếp quản, đón tiếp dân xây dựng vùng giải phóng, Ban giao bưu của tỉnh chuyển Trạm Trà Linh xuống Thạch Bích, hình thành một tuyến đường giao liên mới từ Sơn Phúc đi Thạch Bích, rút ngắn đoạn đường, không phải mất 2 giờ đồng hồ đi thuyền trên sông Thu Bồn.

Thời gian đó, cán bộ Quảng Nam, Quảng Đà, thỉnh thoảng không phải xuống Phú Diên, Đồng Lùng lấy gạo mà đi ngược lên bến Trà Linh - Tân An gùi gạo về ăn. Mỗi chuyến đi, anh chị em còn được ăn những chiếc bánh B1, B2 của Trung Quốc viện trợ. Xe ô tô chạy giữa ban ngày không ngụy trang, thỉnh thoảng dừng lại một trạm đổ xuống mấy bao gạo trắng phân phát cho dân bám trụ. Từ những chuyến xe như thế bộ đội ta đưa được hàng trăm tấn vũ khí, lương thực vào tận khu chiến mà địch không hay biết.

Sáng 17-7-1974, trong lúc quân ta đang triển khai chiếm lĩnh trận địa thì địch đưa Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 ngụy lên thay cho Tiểu đoàn biệt động 78. Theo kế hoạch quân ta nổ súng đánh địch ở vòng ngoài, nhưng đến tối 17-7, hai tiểu đoàn địch chưa bàn giao xong, lực lượng địch ở Nông Sơn tăng gấp đôi. 18 giờ, qua điện thoại trực tiếp, Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu V Võ Chí Công gọi điện cho Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn hỏi địch tăng thêm một tiểu đoàn, quyết tâm của sư đoàn có thay đổi gì không? Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn trả lời, sư đoàn vẫn giữ nguyên quyết tâm. Địch tăng quân chỉ có khác là, đáng lẽ một hố chiến đấu diệt một tên địch thì bây giờ là hai tên. Địch càng đông càng dễ rối loạn. Tư lệnh và Chính ủy sư đoàn nhận định và quyết tâm, xem đây là lúc kẻ đi chưa thoát, kẻ đến chưa tường, là cơ hội đánh thắng địch. Song Sư trưởng Sư 2 vẫn lệnh cho Trung đoàn 38 điều một Tiểu đoàn dự bị cho trung đoàn 31 và giao khu mỏ than Nông Sơn cho lực lượng địa phương Quảng Nam đảm trách.

0 giờ 15 phút ngày 18-7, ta nổ súng diệt chốt điềm Cà Tang. Đến 6 giờ sáng ngày 18-7, ta đã quét sạch hệ thống chốt của bảo an, dân vệ, tề điệp. 16 giờ cùng ngày, tất cả các trận địa pháo của ta lại dồn dập nã đạn  vào cứ điểm địch. 16 giờ 30 phút, bộ binh xung phong tấn công vào chiếm lĩnh mục tiêu. 17 giờ 5 phút ngày 18-7-1974, lá cờ chiến thắng của Sư đoàn 2 giao cho Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 31 được cắm trên nắp hầm chỉ huy cao điểm Nông Sơn. Hai tiểu đoàn quân ngụy bị tiêu diệt hoàn toàn, ngoài số bị giết, phần lớn bị ta bắt làm tù binh.

 Nguồn : Hồ Duy Lệ

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Chiến dịch Đắk Tô



Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu.



Chiến dịch Đắk Tô, thường được biết đến là trận Trận Đắk Tô - Tân Cảnh là trận đánh mở màn cho Chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, diễn ra từ ngày 23 tháng 4 đến ngày 24 tháng 4 năm 1972 trên địa bàn Đắk TôTân Cảnh thuộc tỉnh Kon Tum.

Bối cảnh

Đăk Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Bắc Tây Nguyên. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum. Cụ thể gồm các đơn vị: Sư đoàn 22, Lữ đoàn Dù 2, một liên đoàn Biệt động quân cùng các chi đoàn xe tăng, pháo, không quân chiến thuật. Ngoài ra còn có sự yểm trợ bằng B-52 của Hoa Kỳ.
Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, để thực hiện Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn là Sư đoàn 320 (gồm 3 Trung đoàn 52, 64 và 48) và Sư đoàn 2 (gồm 2 Trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), Trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000 người. Riêng tại mặt trận Đắk Tô - Tân Cảnh, lực lượng gồm các đơn vị: Trung đoàn 28, Trung đoàn 66, Trung đoàn 95, Trung đoàn 24B (Sư đoàn 10 sau này) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum do Phó tư lệnh mặt trân Tây Nguyên Nguyễn Mạnh Quân trực tiếp chỉ huy.

Diễn biến

Đúng 15 giờ ngày 23 tháng 4 năm 1972, pháo binh QĐNDVN nã đạn dồn dập vào căn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của QLVNCH. Vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, xe tăng T-54 xông thẳng qua thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở cửa phía Đông căn cứ Tân Cảnh. Chớp thời cơ đối phương hoảng loạn, Tiểu đoàn 9 của Quân Giải phóng cùng đội công tác tỉnh Kon Tum kêu gọi nhân dân nổi dậy. Cho đến 5 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4 năm 1972, QĐNDVN đã chiếm được thị trấn Tân Cảnh. Lúc này cuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội. Một mình chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 377 của QĐNDVN đã tiêu diệt 7 xe tăng địch trước khi bị QLVNCH bắn cháy bằng súng chống tăng. QĐNDVN dần dần làm chủ tình hình. Đến lúc 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 66 QĐNDVN đã làm chủ căn cứ Tân Cảnh. Theo phía QĐNDVN, họ bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 mm, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh.
Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, Bộ tư lệnh QĐNDVN mặt trận cánh Đông đã cho pháo binh bắn phá căn cứ Đăk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng). Vào lúc 8 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 đánh thẳng vào sở chỉ huy E47 ngay ở sân bay Phượng Hoàng, 4 xe tăng T-54 và một pháo tự hành cấp tốc rời căn cứ Tân Cảnh chi viện cho mũi tấn công tại căn cứ Đăk Tô 2. Sức kháng cự của E47 nhanh chóng bị đè bẹp, QĐNDVN làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.
Cụm phòng ngự mạnh của QLVNCH ở căn cứ Tân Cảnh - Đăk Tô 2 bị tiêu diệt. Đại tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Sư đoàn 22 QLVNCH tử trận, phần còn lại của sư đoàn rút vào rừng tìm đường về Kon Tum. QLVNCH đóng ở các căn cứ Ngok Blêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận Đăk Tô cũng bắt đầu rút chạy trong hoảng loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến Đăk Tô, về Đăk Mốt đã hoàn toàn nằm trong tay QĐNDVN. Tuy nhiên, sau trận đánh bản thân họ cũng bị thiệt hại đáng kể, nhiều xe tăng bị cháy, hậu cần thiếu, đặc biệt là đạn pháo nên 20 ngày sau mới tổ chức tấn công tiếp vào Kon Tum.

Kết quả

Sau khi tiêu diệt cụm phòng ngự Đắk Tô - Tân Cảnh, một căn cứ phòng ngự quy mô sư đoàn của VNCH, QĐNDVN đã làm chủ một vùng tương đối rộng, đồng thời gây ra bầu không khí hoang mang cao độ cho lực lượng phòng ngự ở thị xã Kon Tum. Lúc này, lực lượng VNCH ở thị xã Kon Tum rất mỏng và yếu, trong thị xã chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vị Địa phương quân. Điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cuộc tiến công quyết định vào thị xã. Nhưng lúc đó Bộ tư lệnh chiến dịch lại nhận định:
"Tuy địch ở Kon Tum rất hoang mang, sơ hở và mỏng yếu, nhưng ta chưa có đủ điều kiện để phát triển tiến công một cách nhanh chóng, mạnh mẽ vì đường cơ động chưa làm xong, việc bảo đảm cơ sở vật chất và triển khai binh khí kỹ thuật gặp khó khăn, nên quyết định mở đường để vận chuyển vật chất, đồng thời bổ sung cơ sở vật chất cho các đơn vị chuẩn bị tiến công Kon Tum."
Chính do sự chậm trễ này mà QĐNDVN đã đánh mất thời cơ để đánh chiếm thị xã Kon Tum, tạo điều kiện để QLVNCH có thời gian để kịp xốc lại tinh thần và bố trị lại lực lượng phòng ngự. Cuộc tiến công của QĐNDVN vào thị xã Kon Tum sau đó rút cục đã thất bại.

Nguồn : TẠI ĐÂY

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Cấm Dơi lừng lẫy

Âm mưu
Đầu năm 1967, Mỹ ào ạt đổ quân vào Quế Sơn, chọn Cấm Dơi xây dựng căn cứ quân sự của Lữ đoàn 173 (thủy quân lục chiến) và đặt tên “Ross”.
Đây là một trong những căn cứ lớn của chúng tại Quế Sơn với nhiều phương tiện hiện đại. Sau gần 1 tháng, chúng chặt phá gỗ quý, san bằng Rừng Cấm, xây công sự, hầm, hào với mục đích trở thành tuyến phòng thủ quan trọng để bảo vệ từ xa căn cứ liên hợp hải - lục - không quân tại Đà Nẵng.
Căn cứ được xây dựng với hệ thống công sự bê tông cốt thép, hệ thống bảo vệ được bố trí tầng ngoài, tầng giữa xen kẽ lô cốt với nhà hầm bê tông kiên cố. Trận địa pháo gồm 105 ly và 155 ly, cối 81 ly, cối 106 ly... đặt ở khoảng đất bằng giữa hai đồi Cấm Dơi và Đồi Gai. Sân bay cho HU1A, HU1B, tàu gáo, tàu rọ được bố trí phía nam đồi Cấm Dơi. Các ổ đề kháng DKZ75, đại liên cũng bố trí ở vị trí cao nhất mỏm đá của hai đồi này. Để bảo vệ căn cứ Cấm Dơi, chúng dựng 12 lớp rào kẽm gai, 6 lớp cọc sắt đan ô vuông thẳng đứng cao 2 mét, 6 lớp bùng nhùng kết hợp các loại mìn ba chấu, mìn ríp, mìn calaymo... Cứ khoảng 10-15 mét có 1 trụ đèn pha cao áp.

Cuối năm 1971, quân Mỹ rút khỏi Quế Sơn bàn giao chi đoàn thiết giáp cho quân chủ lực gồm Trung đoàn 5, Trung đoàn 6 thuộc Sư 2 bộ binh ngụy. Tại đây còn có Tiểu đoàn 77 biệt động quân biên phòng, 1 chi đoàn xe bọc thép và hơn 10.000 quân gồm một số đại đội địa phương, nghĩa quân, dân vệ. Quân chủ lực án ngữ và bảo vệ căn cứ Cấm Dơi phía bắc có dãy Động Mông, Đá Hàm; phía tây nam có Hòn Chiêng, Núi Đất, đồn Lạc Sơn; phía tây có Bằng Thùng; phía đông có quận lỵ Quế Sơn do lính địa phương trấn giữ.

Trận đánh oanh liệt
Vào khoảng tháng 4.1972, các đại đội trinh sát của quân khu và trinh sát sư đoàn 711 đã tiếp cận Cấm Dơi.
Du kích Sơn Lãnh có nhiệm vụ dẫn đường cho các đơn vị trinh sát chuẩn bị chiến trường. Các đồng chí trinh sát chia thành tổ 3 người, dùng lá khoai lang giã nhỏ trộn lọ nồi để ngụy trang, chui qua 12 lớp kẽm gai chằng chịt, trận địa mìn dày đặc và hệ thống đèn chiếu. Dù căn cứ địch được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng các trinh sát vẫn đột nhập vào được bên trong để kiểm tra tất cả lô cốt, hầm, hào của sở chỉ huy, các trận địa pháo, DKZ. Sau những ngày gian khổ chuẩn bị cho trận đánh sắp nổ ra, tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối. Tháng 7.1972, tôi còn nhớ có một vị chỉ huy cao cấp của sư đoàn đi kiểm tra lần cuối, sau này được biết là Sư đoàn trưởng 711 Nguyễn Chơn.
alt
Nhà thờ ở Quế Sơn bị Mỹ ném bom ngày 18.8.1972.        Ảnh tư liệu

Tối ngày 16.8.1972, đơn vị du kích Sơn Lãnh được chia thành 2 tổ dẫn đường bộ đội tập kết tất cả vị trí đã chuẩn bị. Một tổ du kích đưa đoàn quân của Sư đoàn 711 (xuất phát từ Cầu Đá, thôn Xuân Quê vượt qua đường 105, qua thôn Lãnh An đến giáp địa phận xã Sơn Thành) liên lạc với du kích Sơn Thành, đưa lãnh đạo chỉ huy của Trung đoàn 31 khảo sát và đặt sở chỉ huy tiền phương tại hang Ông Tân và hang Bà Già (thôn Tam Hòa). Sau khi đưa được đơn vị trinh sát và bộ đội tập kết, các chỉ huy của Trung đoàn 31 và 38 đã vào vị trí. Trong trận đánh này, lần đầu tiên hỏa tiễn B72 được bố trí về phía tây bắc Cấm Dơi cách 2km và tại đồi Phong (Đồng Bình, Lãnh Thượng 1). Sau này du kích địa phương hay gọi là đồi B72.
Cấm Dơi là một khu đồi thấp, có độ cao so với mặt nước biển khoảng 10-12m, địa hình có nhiều tảng đá lớn nằm ngay trung tâm huyện Quế Sơn. Khu Cấm Dơi có 2 mỏm đồi liền kề, Đồi Gai nằm về phía tây có diện tích chung khoảng 20 ha. Cấm Dơi thuộc địa phận thôn Thuận An, xã Sơn Thành cũ; Đồi Gai thuộc địa phận thôn Lãnh Thượng, xã Sơn Lãnh cũ. Trước năm 1967, nơi đây là rừng nguyên sinh với nhiều cây cổ thụ vài trăm năm tuổi, được người dân địa phương tôn vinh là Rừng Cấm, thu hút rất nhiều đàn dơi về trú ngụ. Về sau, người dân Thuận An ghép tên khu vực này thành Cấm Dơi.
Trung đoàn 31 do Trung đoàn trưởng Võ Đình Nã chỉ huy, đưa bộ đội tập kết phía bắc đường 105 (nay là ĐT611). Các trận địa hỏa lực như DKZ, cối 120 ly, 82 ly... đã bố trí sát trận địa tại Gò Ngu, Gò Sinh, gò Ông Chương thuộc thôn Thuận An, Đông Phú. Phía tây và tây nam, bộ đội Trung đoàn 38 tiếp cận do Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Trí chỉ huy, Tiểu đoàn 18 do đồng chí Mỡ chỉ huy, Tiểu đoàn 19 đồng chí Sánh chỉ huy… Trong thời gian ngắn, bộ đội ta đã nhanh chóng triển khai các đại đội bộ binh, pháo binh tại khu vực gò Rang (Lãnh Thượng 1), phía nam Cầu Liêu, Cấm Lá (xã Sơn Thắng cũ). Các trận địa hỏa lực được bố trí rất thuận lợi, tầm bắn phát huy tối đa và tính chính xác cao.
Vào khoảng 5 giờ sáng ngày 17.8.1972, pháo hiệu của Sư đoàn 711 đã phát, tiếng súng bắt đầu rền vang mở màn cuộc tấn công. Những quả đạn ĐKB-B72 rời bệ phóng, pháo 130 ly từ Hiệp Đức bắn chính xác vào trận địa pháo của địch. Tại căn cứ Cấm Dơi, phòng không 12 ly 7 hạ nòng như bão lửa, các kho đạn, kho xăng bốc cháy, bọn địch hoàn toàn rơi vào thế bị động. Sau đó, địch bắt đầu phản kích, máy bay phản lực F5, A37… lao đến ném bom, B52 từng tốp 3 chiếc bắt đầu rải thảm vòng ngoài khu Lãnh Thượng và Tam Hòa. Sau hai ngày điên cuồng phản công, đến ngày 19.8 địch suy yếu hoàn toàn, căn cứ Cấm Dơi bị cô lập. Vào 3 giờ chiều cùng ngày, cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh đồi Cấm Dơi.
Ngày nay, biểu tượng Cấm Dơi nằm giữa trung tâm huyện Quế Sơn với hình ảnh các chiến sĩ cầm súng bất khuất. Cuộc chiến đã lùi xa, ký ức về trận đánh Cấm Dơi oanh liệt, hào hùng vẫn đọng mãi trong tôi.

Nguồn : BÁO QN

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào


 


Thực hiện chủ trương trên, Bộ tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 lên phía tây nhằm tăng cường giữ Sê Pôn, điều Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 cơ động về phía tây dự bị cho Sư đoàn 2 và dự bị cho hướng Bản Đông, sử dụng Sư đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 31) để tiến công tiêu diệt Sư đoàn 1 bộ binh địch, sử dụng Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 2) tiến công tiêu diệt Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến.
Đồng thời, sử dụng 3 trung đoàn: Trung đoàn 2 của Sư đoàn 324, Trung đoàn 102 của Sư đoàn 308 và Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 để cắt đường 9 đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, đồng thời đánh địch từ Lao Bảo đến Khe Sanh; Sư đoàn 2 cùng với lực lượng phối thuộc, tăng cường bao vây, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 1 ngụy; sử dụng Sư đoàn 308 để chuẩn bị tiêu diệt địch ở Bản Đông. Pháo binh chiến dịch được sử dụng tập trung để đánh Bản Đông, Lao Bảo, Khe Sanh. Sau khi điều chỉnh và cơ động lực lượng, ta đã hình thành thế bao vây, chia cắt cô lập địch trên từng khu vực, trong khi ta vẫn giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược, sẵn sàng chuẩn bị chuyển sang thực hành tiến công lớn tiêu diệt lực lượng chiến dịch của địch.

Ngày 12-3-1971 ta mở đợt 3 chiến dịch thực hiện đòn tiêu diệt lực lượng địch ở Bản Đông. Trung đoàn 102 thực hiện cắt đường 9, trong trận đánh ở điểm cao 311 trung đoàn đã đánh lui 20 đợt phản kích của Lữ dù số 2 diệt 450 tên địch, bắn cháy 65 xe tăng, xe thiết giáp, bắn rơi 3 máy bay. Tại khu vực điểm cao 351, các chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 4 và Đại đội 7, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 kiên trì giữ vững trận địa chốt. Như vậy, các điểm chốt chặn của ta tại các điểm cao 311, 334, 351 đã chặn đứng mọi hoạt động tiếp ứng của địch trên đường 9.

Sáng ngày 16-3-1971, Sư đoàn 2 - Sư đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Chơn - được tăng cường Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh chiến dịch đánh địch, mục tiêu tiêu diệt là Trung đoàn 1 bộ binh thuộc Sư đoàn 1 ngụy khi chúng bỏ điểm cao 723 chạy về hướng Đông Bắc và lọt vào khu vực ta cài sẵn. Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 141 từ các sườn núi cao đánh dốc xuống kẹp chặt toàn bộ quân địch. Cùng lúc, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn Ba Gia vận động đánh cắt ngang sườn đội hình của quân ngụy đang tháo chạy.

Các chiến sĩ ta từ 3 hướng dũng mãnh xung phong vào đội hình đang rối loạn của địch. Trung đội trưởng Lê Văn Phê của Tiểu đoàn 40 dẫn đầu 9 chiến sĩ dùng AK, lưỡi lê, lựu đạn đánh gần diệt 40 tên địch, riêng Phê diệt 26 tên; đến trưa ngày 16 tháng 3, toàn bộ Tiểu đoàn 1 của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Lực lượng còn lại của Trung đoàn 1 bộ binh ngụy co cụm, phân tuyến để máy bay B52 ném bom vào đội hình quân ta. Sau hai ngày tiến công, Sư đoàn 2 đã tiêu diệt và bắt sống 1.750 địch, diệt gọn Trung đoàn 1 của Sư 1 ngụy; bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, pháo, cối hạng nặng.

Ngày 19-3-1971, sau 7 ngày vận chuyển gạo, đạn phục vụ chiến dịch, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và Chính trị viên tiểu đoàn Trần Xuân Gứng được lệnh cơ động diệt địch ở động Na, Kế Sách, Ba Lào. Đường xa, địa hình phức tạp, bộ đội thấm mệt nhưng với quyết tâm không để địch chạy thoát, toàn tiểu đoàn hành quân thâu đêm để kịp vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tấn công. Chờ xe tăng và thiết giáp địch lọt vào đội hình phục kích của tiểu đoàn trên đường số 9, Nguyễn Huy Hiệu dẫn mũi chủ yếu của tiểu đoàn đánh thẳng vào giữa đoàn xe. Sau 1 giờ chiến đấu, tiểu đoàn diệt gọn 28 xe tăng, thiết giáp, vận tải và tiêu diệt gần 100 tên Mỹ - ngụy.

Trên hướng Bản Đông, các Trung đoàn bộ binh 66, 64, 36 có xe tăng, pháo binh, cao xạ phối hợp bao vây, chia cắt cụm cứ điểm Bản Đông. Trước sức tấn công mạnh mẽ của ta, ngày 18-3-1971 địch bắt đầu rút khỏi Bản Đông trong hoảng hốt, lo sợ, ta lập tức công kích vào toàn bộ khu vực Bản Đông. Sáng ngày 20 tháng 3 ta làm chủ hoàn toàn Bản Đông, diệt 1.762 tên, bắt sống 107 tên, thu và phá hủy 113 xe, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay.

Ở phía đông, ngày 23-3-1971, phối hợp với lực lượng đường 9 Nam Lào, Bộ đội Đặc công B5 đã tập kích địch ở Tà Cơn, tiêu diệt 100 tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 42 máy bay lên thẳng, 6 xe tăng. Một bộ phận lực lượng của ta phát triển đánh vào khu vực Hướng Hóa, Khe Sanh làm cho địch náo loạn, co cụm không dám phản kích.

Trong những ngày từ 19 đến 23-3-1971, Bộ tư lệnh chiến dịch chuyển dịch đội hình về phía đông, kết hợp truy kích địch với tác chiến ngăn chặn, lần lượt tiêu diệt địch co cụm ở các khu vực Cha Ky, Huổi San, Lao Bảo, Làng Vây. 16 giờ chiều ngày 22 tháng 3, trong tình thế bị uy hiếp từ nhiều phía, đặc biệt là các điểm chốt dọc đường số 9 do Trung đoàn 24 và Trung đoàn 102 đảm nhiệm đánh địch ngày đêm và giữ vững trận địa không cho quân địch vượt qua; hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, xe vận tải quân sự bị cháy, hỏng dọc các điểm chốt cũng góp phần cản trở, ùn tắc làm cho quân địch không thể cơ động trên đường 9 để về Lao Bảo, Khe Sanh, địch buộc phải vứt bỏ lại toàn bộ xe tăng, pháo cơ giới còn đang nổ máy để vượt qua phía Nam sông Sê-pôn, sông Sê-băng Hiên chạy bộ vào rừng. Do tổ chức hiệp đồng vây chặn phía Nam không chặt, nên có một bộ phận lực lượng quân địch có cả sĩ quan chạy thoát. Ta tổ chức một số đơn vị vượt sông bắt sống được hàng trăm tàn binh. Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra đường 9 - Nam Lào của Mỹ - ngụy biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn. Nhà lý luận quân sự Bri-ên Giên-Kin coi đây là “một thảm họa lớn nhất đã tiêu diệt số lớn sĩ quan trẻ của quân đội Sài Gòn”, rõ ràng là một cơn ác mộng của quân đội ngụy và chính quyền Sài Gòn.
Sau 52 ngày diễn biến chiến dịch, chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi, ta đã thu được kết quả chiến dịch hết sức to lớn: Loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt làm tù binh 1.142 tên; tiêu diệt 3 lữ đoàn, trung đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn; đánh thiệt hại nặng sư đoàn dù, sư đoàn bộ binh 1, đánh thiệt hại sư đoàn thủy quân lục chiến; bắn rơi và phá hỏng 556 máy bay (trong đó 505 máy bay lên thẳng, phá hủy và đánh chìm 43 tàu, sà lan, phá hủy 1.138 xe cơ giới (trong đó có 528 xe tăng và bọc thép). Ta thu được một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh (máy bay, xe tăng, pháo, cối, xe vận tải, các loại đạn...).

Chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào 1971 đã giáng cho Mỹ - ngụy một đòn thất bại nặng nề về cả quân sự lẫn chính trị, cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần thiết thực vào việc chỉ đạo xây dựng huấn luyện và tác chiến cho lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với thắng lợi to lớn toàn diện, chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Vinh quang thuộc về những người con đã xả thân vì Tổ quốc và chính sự hy sinh của những người con ưu tú ấy đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Nguồn : ST

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Trận cao điểm 547 (Campuchia) 4.1984




Sau 4 lần đánh, kể cả lần vào tháng 5.83 của Sư đòan 307 không thành công. Trận đánh căn cứ 547 lần này của QK5 là một trận đánh qui mô lớn, hiệp đồng binh chủng, do Tư lệnh QK5 trực tiếp chỉ huy.

Cao điểm 547 nằm trên dãy Đăng rếch (Dangreak/chiếc đòn gánh), dài khỏang 40km, chiều rộng 30km. Dãy núi nằm sát biên giới Thái lan, đứng dưới chân núi nhìn lên như một bức tường thành vững chắc, án ngữ một vùng rộng lớn.
Một trục đường lớn từ Thái lan vắt qua dãy núi. Dãy núi này về mùa khô nước chỉ có ở chân núi. Trong nội địa Campuchia, hầu hết là rừng khộp, lại càng khan hiếm nước. Hết mùa mưa là các khe suối cạn, nước chỉ còn đọng lại thành từng vũng nhỏ, có nơi đi hàng buổi đường mới tìm thấy nước. Dân cư thưa thớt, chủ yếu ở dọc theo trục đường từ Thái lan sang.

Bọn Polpot chọn dãy Đăng rếch làm căn cứ phía trước của chúng, gồm 2 chức năng:
1. Tạo chân hàng từ Thái lan qua
2. Dùng sức người tổ chức gùi hàng vào các căn cứ của địch ở sâu trong đất Campuchia.
Căn cứ địch có 2 tầng phòng thủ: tầng trên là các lọai hỏa lực, tầng dưới là mìn. Ở mặt đất địch gài mìn chông bộ binh, mìn chống tăng, địch còn treo hàng nghìn quả mìn trên đá, trên cây thay cho lính cảnh giới.
Đây là một căn cứ phòng ngự kiên cố, nhiều tầng, có chính diện, có chiều sâu kết hợp với đội hình phức tạp, núi cao trung bình 400-500m, có nơi 600-700m, đá lởm chởm, vách núi cheo leo, nhiều hang động, nhiều vách đứng có độ dốc từ 45 đến 60 độ, có nơi thẳng đứng muốn leo lên phải dùng thang dây.

Căn cứ 547 do sư 612 (thiếu) và sư 616 (thiếu) của Polpot chiếm giữ. Ngòai lực lượng bộ binh, địch có cả hỏa lực mạnh chi viện từ 1 đến 2 tiểu đòan pháo binh, 10-12 lần chiếc máy bay/ngày của Thái lan, bố trí cách đó 9-10km. Trên cơ sở 2 tần phòng thủ, hệ thống chốt điểm ở 547 chia làm 3 tuyến:
1. Tuyến an ninh cảnh giới bên ngòai
2. Tuyến đề kháng chính do bộ binh kết hợp với hỏa lực bố trí dựa vào các hang động hình thành từng điểm tựa có công sự gỗ tương đối vững chắc, có hệ thống vật cản thiên nhiên kết hợp với rào dây thép gai và các lọai mìn
3. Tuyến trung tâm gồm sở chỉ huy, lực lượng bảo vệ, kho tàng thành từng cụm, có những khu kho vào sâu trong biên giới (TL?).


Về phía ta lực lượng tham gia trận đánh gồm:
- F307 đủ,
- E1/F2,
- E143/F315
- 1 E pháo
- 1 E Cao xạ
- 1D xe tăng
- 1D xe bọc thép M113 (35 xe)
- 1D cao xạ 37mm


Khó khăn của quân ta trong trận đánh này là khó khăn về tư tưởng, vì nhiều lần đánh 547 không thành công, đặc biệt lần đánh thứ 4 của F307, trận đánh không giải quyết được vì thiếu nước uống, thương vong cao, bỏ sót thương binh, liệt sỹ lại chiến trường.

Đồng chí Tư lệnh mới về nhận nhiệm vụ tư lệnh QK5 khi đi kiểm tra MT579 và nghiên cứu chiến trường tại chỗ, xác định khâu chuẩn bị, đảm bảo cho trận đánh là vấn đề tiên quyết, nên đã đề ra một số nội dung cần chuẩn bị:
1. Tổ chức trinh sát nắm địch:
a. Tổ chức 7 tóan trinh sát của các E, F và MT579 và sau đó tổ chức trinh sát của người chỉ huy theo dự kiến phân công theo từng hướng.
b. Tư lệnh và các cơ quan chủ chốt của QK và MT579 đi kiểm tra. Trong thời gian 2 tháng đã có hơn 200 lượt người đi trinh sát chuẩn bị.
c. Đồng thời QK tổ chức hệ thống trinh sát quân báo gồm: đặt 4 đài quan sát, 4 đội trinh sát luồn sâu, 25 tóan trinh sát cơ động, 1 tóan trinh sát bắt tù binh và 13 tóan trinh sát dự bị.

2. Tổ chức tập huấn, huấn luyện:
Tuy là đơn vị cũ, nhưng phần lớn cán bộ chiến sỹ mới nên việc tổ chức tập huấn huấn luyện rất quan trọng. Đối với cán bộ chỉ huy từ cấp C đến F: tập huấn về chiến thuật E, F đánh địch trong công sự vững chắc, tổ chức tập bài về phần quyết tâm và đồng thời rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 của F307. Đối với bộ đội tổ chức huấn luyện theo hình thức tiến công địch trong công sự vững chắc từ cơ bản đến diễn tập phân đội, có bắn đạn thật và luyện tập theo phương án.

3. Tổ chức cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào khu tập kết gồm hơn một vạn quân (11.000) trong đó đưa từ Việt nam sang 3.000 quân (E1/F2). Huy động 438 chuyến xe và 5 chuyến chyên cơ bằng trực thăng và AN 26 cho cán bộ từ Pleiku sang và phân đội A72 từ Hà nội vào Tà beng.
Vận chuyển vật chất hậu cần đảm bảo cho trên 11 nghìn quân có đủ lương thực, thực phẩm ăn trong thời gian chuẩn bị và bước vào chiến đấu (25 ngày, có 5 ngày lương khô/gạo sấy)
Đảm bảo vận chuyển 531 tấn vũ khí, đạn dược và phương tiện. Bảo đảm kỹ thuật cho 591 pháo, cối và cho tòan bộ súng bộ binh theo biên chế.
Để đảm bảo cho việc cơ động, vận chuyển QK giao lực lượng công binh bảo đảm và khai thông 3 mạng đường chính và đường nhánh dài trên 100km. Xây dựng và thiết bị 3 sân bay trực thăng. Khi bước vào chiến đấu, tổ chức 3 đội đảm bảo và hộ tống xe tăng thiết giáp, pháo binh chiếm lĩnh và cơ động chiến đấu. Tổ chức 6 đội khắc phục vật cản mở đường cho đột phá và tiến công của các đơn vị.
Về đảm bảo thông tin, QK tổ chức 2 xe tổng đài tiếp sức, 2 xe công trình. Huy động 830 máy vô tuyến điện và hữu tuyến điện, 670km dây và 1.628 cán bộ chiến sĩ thông tin.

4. Một công tác đảm bảo hết sức quan trọng trong trận đánh này là đảm bảo nứơc cho bộ đội. Rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 vì thiếu nước uống, bộ đội bị ngất xỉu, bộ đội đi tìm nước uống vấp mìn thương vong làm mất sức chiến đấu. Có đơn vị hành quân cả đêm, sáng ra hết nước không đánh được. Lần này có quy định rõ ràng bình quâ mỗi cán bộ chiến sĩ đảm bảo 5 đến 6 lít nước/ngày. 100% quân số tham gia chiến đấu có bi dông nước lọai 1 lít và 0,75lít, 40%-60% quân số được trang bị lọai bi đông 5 lít và can nhựa 4lit. hậu cần QK cấp hơn 1000 can nhựa lọai 10l, 20l, bao nilong lọai lớn có dây gùi cho đội vận chuyển nước cho từng E. Các tiểu đội và khẩu đội được cấp 1 bao nilong lớ bảo quản nước khi chiếm lĩnh.
Phương thức cung cấp nước của QK được tổ chức chu đáo. Đội xe chuyển nước của QK gồm 30 xe có 10 xe bọc thép hộ tống dẫn đường. Mỗi xe chở nước có 2 tec chứa nước lọai 3 khối. Các tec nước làm tại Đà nẵng từ các khoanh tôn làm cống nước của Mỹ còn lại. Số xe này chia làm 4 đội, có trang bị máy bơm nước. Từ nguồn về nơi trữ nước xa 40km. Tại 3 trạm tiếp nước, QK cấp 15 thuyền nhôm, các đội xe chở nước đổ vào thuyền nhôm rồi quay lại chở tiếp. F2 và F307, mỗi F có 2 trạm tiếp nước, tại đây các E lấy nước về phân phối cho các đơn vị. Có trạm tiếp nước ở sau lưng, sát ngay khu chiến làm cho bộ đội yên tâm chiến đấu, không sợ chết khát như các lần đánh trước. Đối với các đơ vị binh chủng, mỗi xe tăng, thiết giáp đều phải có thùng phuy (có nắp) chứa 100L, mỗi xe kéo pháo được cấp 1 phuy có nắp chứa 200L.

Diễn biến trận đánh:
Ngày 20.4 (N-5) các E của F307 thực hiện đánh tạo thế và vây cắt. E678 đánh ép từ đông nam căn cứ tạo điều kiện cho công binh mở đường, làm trận địa và triển khai hệ thống thông tin, E678 đã đánh tan một cánh quân địch ra ngăn chặn và đã chiếm được hồ nước Suối tre, điểm cao 106.
Cùng thời gian đó từ 20.4 đến 24.4, các E 94, 95, 29 của F307, E143/F315 phái trinh sát đi trước chuẩn bị hành lang và vào vị trí chuẩn bị vây cắt. Địch phát hiện được đã dùng cối 82 ly, B40, B41 bắn chặn. Quân ta vẫn khôn khéo giữ bí mật, cánh n ào lộ thì tổ chức đánh chiếm vị trí, cánh nào không lộ thì tránh địch, không cho địch phán đóan ý đồ của ta.
Trên hướng tấn công đột phá chính diện, E1/F2 và xe thiết giáp K63 (hay M113?), một đại đội xe tăng T54, pháo binh, cao xạ cũng vào triển khai chiếm lĩnh.
Ở mũi đánh phối hợp ngày 22.4, 23.4, trung đòan 19K của bạn bao vây và đánh chiếm khu vực Anlung.

7 giờ sáng 25.4, quân ta đồng lọat nổ súng tiến công. E1 của F2 được hỏa lực pháo binh chi viện, phát huy hỏa lực đi cùng của bộ binh, hỏa lực của xe tăng, thiết giáp, các đơn vị lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu được quy định. E1 nhanh chóng đánh chiếm được mục tiêu Z6. Đến hết ngày 25.4, E1 làm chủ hòan tòan các mục tiêu Z1, Z12, Z14.
Các trung đòan của F307 thực hành bao vây phía sau địch ở cánh phải. Đánh từ sau lưng địch đánh ra. Quân ta lần lượt chiếm các điểm cao, cắt con đường địch có thể chạy từ 547 sang Thái lan.
Ở cánh trái, mặc dù đã ở vị trí xuất phát, nhưng E143/F315 theo lệnh của MT719 (là mật danh Tiền phưong BTTM/BQP) không được đánh sâu vào đất Thái lan, do vậy nhiệm vụ của F307 (ở cánh phải) nặng hơn, phải nhanh chóng phát triển phối hợp với E1/F2 diệt gọn bọn địch.
Ngày 26.4, mức độ chống trả của địch ở các mục tiêu còn lại quyết liệt hơn. Lợi dụng các hang đá trên vách núi, chúng bố trí DKZ, trọng liên, đại liên bắn dữ dội khi ta nổ súng xung phong. Quan sát trực tiếp những thủ đọan chống trả của địch, sư đòan trưởng (F2) Trương Hồng Anh lệnh cho trận địa pháo 85 ly và pháo cao xạ 37 ly hạ nòng bắn “xăm” vào từng hỏa điểm của địch. Đại đội xe tăng T54 cũng được lệnh cơ động lên phía trước, dùng pháo trên xe tham gia tiêu diệt các hỏa điểm địch trên vách núi. E1 vừa theo dõi phát hiện mục tiêu cho pháo bắn vừa chớp thời cơ tổ chức xung phong đánh chiếm mục tiêu. F307 từ trên thế cao tiếp tục khép chặt vòng vây, đánh dồn địch lại. Đánh thẳng vào các căn cứ, kho tàng của địch. Đến hết ngày 26.4, quân ta đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu như Z1, Z1a, Z4.
Sáng 27.4, E1/F2 đã bắt liên lạc được với F307, phối hợp tấn công dứt điểm các mục tiêu còn lại quanh khu vực căn cứ 547 và tiến hành lùng sục, tảo trừ, truy quét tàn quân địch.

Kết quả:
Trận đánh này quân ta đã xóa sổ 2 sư đòan 612 và 616 quân Pol Pot (mỗi sư đòan địch thường từ 600 đến 1000 tên), lọai khỏi vòng chiến đấu 1800 tên, trong đó bắt sống 300 tên. Thu 515 súng các lọai gồm:
+ 1 khẩu cối 120 ly
+ 2 khẩu cối 100 ly
+ 92 khẩu cối 82 ly
+ 15 khẩu DKZ 75 ly
+ 16 khẩu DKZ 82 ly
+ 15 khẩu 12,7 ly
+ 17 đại liên
+ 33 trung liên
+ 147 khẩu B40, B41
+ số còn lại là AK và CKC
Thu nhiều quân trang quân dụng, hàng trăm tấn đạn, 30 tấn lương thực, một số tài liệu quan trọng.
Phá hủy 5 kho trang bị, lương thực và súng đạn. Triệt phá hòan tòan căn cứ cửa khẩu 547, chiếm giữ các khu vực qaunh các điểm cao then chốt. Quân ta tổ chức chốt giữ, xoay ngược các điểm chốt, nhằm mục tiêu về phía Thái lan.

Ghi chú
Khu vực điểm cao 547 chính là khu vực đền Preah Vihear.
Sư trưởng F2, Đại tá Trương Hồng Anh đã hy sinh sau trận đánh do trúng mìn địch còn sót lại ngay lúc đi xe lên khu vực đền.
F307 đã đánh vòng và vây ép chặn quân địch từ phía đất TL. Trong khi đó F2 và các đơn vị khác đánh chính diện từ phía đất
CPC.


Nguồn : Tập tin được lưu ở: Uncategorized

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

CHIÊN THẮNG KHÂM ĐỨC - THÁNG 5 NĂM 1978

Căn cứ Khâm Đức bị bắn phá

 Từ ngày 9 tháng 5 đến 12 tháng 5 năm 1968, Sư đoàn 2 QĐNDVN tiến công tiêu diệt Chi khu quận lỵ Khâm Đức và mở đầu bằng trận đánh tiêu diệt cứ điểm tiền tiêu Ngok Ta Vak, cách Khâm Đức 7km về phía tây nam.[10] Khoảng 3 giờ 45 phút sáng, cuộc tấn công vào Ngok Ta Vak bắt đầu. Căn cứ này được bảo vệ bởi 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo với 33 quân nhân thuộc Pháo đội D, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 12 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ được chỉ huy bởi 8 cố vấn Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ và 3 cố vấn Úc.
Đến 5 giờ sáng, QĐNDVN tấn công vào hướng đông, lực lượng liên quân gọi trực thăng vũ trang tới oanh kích sát ngay tuyến phòng thủ bên trong, bất chấp khả năng bắn vào quân nhà. Đến khi trời sáng, cuộc tấn công bị đẩy lùi. VNCH cho điều thêm 45 dân vệ đổ bộ xuống tiếp viện. Trong lúc đổ bộ, 1 chiếc trực thăng bị bắn rơi, 1 chiếc khác một trực thăng trúng đạn nơi thùng xăng phải đáp khẩn cấp. Xung quanh Ngok Ta Vak, QĐNDVN vẫn tiếp tục pháo kích vào căn cứ

Chiếc CH- 47 đang bốc cháy

Đêm 11 rạng sáng 12 tháng 5 năm 1968, Đại đội đặc công và Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 21 QĐNDVN phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Phước Sơn đã tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi. Trước tình hình nguy ngập của Khâm Đức, phía Mỹ điều Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 196 thuộc Sư đoàn Americal (tức Sư đoàn bộ binh 23) của Mỹ xuống Khâm Đức, nhưng vẫn không dám tung lực lượng ra cứu Ngok Ta Vak.
Ngok Ta Vak đánh điện yêu cầu được rút lui nhưng ban đầu không được chấp thuận. Sau đó Đại tướng Westmoreland cho rằng trại LLĐB Khân Đức không đủ sức chống lại trước áp lực của QĐNDVN và không muốn căn cứ bị tràn ngập nên ra lệnh di tản khỏi căn cứ bắt đầu từ buổi sáng. Đến trưa, quân phòng thủ bắt đầu đốt tiêu hủy súng ống, khí tài không mang theo được. Qua buổi chiều tướng Westmoreland thông báo cho Không Lực của Hạm đội 7 Hoa Kỳ bắt đầu cuộc di tản bằng vận tải cơ cỡ lớn C-130. Quân Mỹ và VNCH rút lui vội vã khỏi Ngok Ta Vak, phải bỏ lại cả xác đồng đội.[11]
Buổi sáng hôm đó, một vận tải cơ C-130 thuộc Phi đoàn 21 Không vận chiến thuật do Trung tá Darel D. Cole cùng với phi hành đoàn bay lên trại, tiếp tế một kiện hàng lớn. Chiếc máy bay vừa ngừng trên phi đạo, hỏa lực QĐNDVN bắn tới và chiếc máy bay trúng đạn nhiều chỗ, một bánh bị trúng đạn xẹp, làm chiếc phi cơ không cất cánh được, phải lết vào chỗ đậu.

Một máy bay C-130 bị phá hủy

 Chiếc C-130 đầu tiên đáp xuống trại để tổ chức di tản do Thiếu tá Bernard Bucher thuộc Phi đoàn 774 Không vận chiến thuật. Thiếu tá Bucher đem được lên phi cơ hơn 200 người rồi vội vã cất cánh bay lên. Chiếc C-130B bị trúng đạn từ hai khẩu đại liên 12,7mm bắn lên, lảo đảo rơi xuống một khoảng vườn, nổ tung. Chiếc AC-130E do trung tá Bill Boyd đáp xuống tiếp theo. Khi cất cánh ông ta chọn chiều ngược lại và bay thoát. Chiếc AC-130 thứ ba đáp xuống, cũng thuộc Phi đoàn 21 do Trung tá John Delmore lái. Chiếc này khi đáp xuống đã trúng đạn đại liên, bay mất phần trên (mái, nóc) của buồng lái, hư hại bộ phận điều khiển động cơ máy bay. Trung tá Delmore, cố gắng lái chiếc máy bay bất kiển dụng đáp xuống phi đạo, rồi tách ra ngoài để khỏi làm trở ngại các phi cơ khác lên xuống phi đạo.
Cuối cùng Hoa Kì cũng đã di tản xong với số tổn thất hai vận tải cơ C-130, 6 phi cơ khác bao gồm trực thăng, phi cơ thám thính, tất cả 9 chiếc bị bắn rơi, gồm 2 trực thăng CH-47 Chinook (AC-475, 469), 2 trực thăng CH-46, 2 vận tải cơ C-130 của Không Quân, 2 trực thăng UH-1 Lục Quân, và 1 máy bay trinh sát O-2. Nhưng trên thực tế, chỉ độ 500 trong số 1400 quân nhân, dân sự chiến đấu trong trại được các phi cơ vận tải Hoa Kỳ di tản.
Đến 6 giờ sáng ngày 12 tháng 5 năm 1968, vòng vây của QĐNDVN càng siết chặt, hỏa lực bắn phá dữ dội vào sân bay Khâm Đức, và đồng loạt tiến công tiêu diệt Chi khu quận lỵ. Bị tấn công mãnh liệt, số quân Mỹ còn lại phải xuyên rừng tháo chạy, đến 12 giờ trưa ngày 12 tháng 5 năm 1968, cụm cứ điểm Khâm Đức bị QĐNDVN đánh chiếm hoàn toàn. Số lính kẹt lại đã phải phân tán ra thành nhiều toán nhỏ, lẩn tránh trong rừng, thoát ra khỏi vòng vây của đối phương. Trong số đó, chỉ một số ít người may mắn được trực thăng tìm thấy “bốc” đem về.
QĐNDVN tuyên bố diệt hơn 300 quân đối phương, bắt giữ 104 người khác trong đó có 2 cố vấn Mỹ.


Nguồn : WIKIPEDIA

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Trận Ba Gia - Quảng Ngãi, tháng 5-1965.


Tượng đài chiến thắng Ba gia


Trận Ba Gia diễn ra từ ngày 29 tháng 5 đến 31 tháng 5 năm 1965 trên địa bàn thị trấn Ba Gia, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, là trận đánh góp phần đẩy nhanh sự phá sản của chiến lược Chiến tranh đặc biệt trong Chiến tranh Việt Nam. Trận đánh được tiến hành bởi Trung đoàn 1 bộ binh Quân khu V (Quân Giải phóng miền Nam) nhằm vào một chiến đoàn, 2 tiểu đoàn bộ binh hải quân và 3 tiểu đoàn biệt động quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Bằng nhiều phương pháp tác chiến như vây đồn diệt viện, phục kích, tập kích... phối hợp theo một ý định thống nhất, Quân Giải phóng đã chủ động điều động và diệt từng tiểu đoàn quân đối phương trong tiến công vận động. Theo Quân Giải phóng, họ đã diệt gọn bốn tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn khác. Đây được coi là trận chiến đấu có hiệu suất cao, lần đầu diệt gọn chiến đoàn quân Sài Gòn, đánh dấu sự trưởng thành quan trọng về tổ chức chỉ huy và vận dụng linh hoạt các phương pháp chiến đấu của quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, là một trận đánh nổi tiếng trong "Chiến tranh đặc biệt".

Theo hồi ký của sĩ quan Thủy quân lục cựu đại tá Tôn Thất Soạn-lúc bấy giờ là thiếu tá chiến đoàn trưởng Chiến đoàn B kiêm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 TQLC ghi về trận chiến này như sau :
” …Ngày 29 tháng 5/1965, CQ đã huy động 1 trung đoàn tấn công vào đồn Ba Giá, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 12 km về phía Tây Bắc.
Lực lượng phòng thủ đồn có một đại đội Địa phương quân trấn đóng, và 2 khẩu đội 105 ly.
Trước áp lực quá nặng của địch, đơn vị trú phòng đã phải rời bỏ vị trí phòng ngự.

…Tư lệnh Quân đoàn 1 đã điều động Trung đoàn 51 Bộ binh Biệt lập, Tiểu đoàn 39 Biệt động quân thống thuộc Quân đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến-đơn vị tăng phái đang hành quân tại Quảng Nam- khẩn cấp tăng viện để tái chiếm đồn Bá Giá. Lực lượng tiếp ứng đã gây thiệt hại nặng cho địch quân, nhưng sau đó công quân đã huy động thêm lực lượng ngăn chận cuộc phản công của các đơn vị VNCH.
Để tăng cường lực lượng giải tỏa áp lực địch, bộ Tổng tham mưu QL.VNCH đã điều động bộ chỉ huy Chiến đoàn B và Tiểu đoàn 1 TQLC từ Sài Gòn ra Quảng Ngãi. Ngay sau khi đến nơi, chiến đoàn B TQLC gồm 2 tiểu đoàn 1 và 3 đã cùng với trung đoàn 51 Bộ binh khởi động giai đoạn 2 của cuộc phản công. Tiểu đoàn 1 TQLC được trực thăng vận xuống vùng hành quân thay thế Tiểu đoàn 39 BĐQ-đơn vị này đã đánh bại 1 đơn vị địch ra khỏi mục tiêu, tịch thu hơn 200 vũ khí nhưng sau đó địch ( Cộng quân) đã dồn lực lượng chọc thủng phòng tuyến, trong khi tiểu đoàn chưa kịp tản thương và bổ sung đạn dược nên phải dời về tuyến sau.
Sau khi giai đoạn 2 kết thúc, tin tức tình báo CQ tuy bị thiệt hại trong mấy ngày qua, nhưng vẫn chưa từ bỏ ý định tấn chiếm Quảng Ngãi. Đại bộ phận của sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV đã rút về hướng Tây Bắc của đồn Ba Giá và Núi Tròn (tài liệu của Tổng cục Chiến tranh Chính trị và Việt Tấn xã ghi là đồn Ba Giá, trong khi hồi ký của đại tá Soạn ghi là đồn Ba Gia)
….)


Nguồn : ST & BS

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

CHIẾN CÔNG TIÊU DIỆT CẤM DƠI

Khi ta hoàn thành trận đánh tiêu diệt Cấm Dơi, đài Tiếng nói Hoa Kỳ trong bản tin ngày 21.8.1972 bình luận: “Mất Quế Sơn, một chi khu quận lỵ có căn cứ Cấm Dơi được phòng ngự mạnh vào bậc nhất Việt Nam chứng tỏ quân đội Việt Nam Cộng hòa không đủ sức đương đầu với cộng sản ở Nam Việt”.


NỖI ĐAU LỚN
Cấm Dơi - cứ điểm lớn của địch bố trí ở vùng tây Quế Sơn, tập trung cả pháo tầm xa, công sự vững chắc, khống chế yết hầu tây nam của căn cứ quân sự Đà Nẵng, chắn con đường chiến lược nối vùng tây xuống phía đông, đồng bằng ven biển Quảng Nam. Mọi động tĩnh, an nguy của Cấm Dơi, chỉ trong chốc lát sẽ có quân chi viện cơ động từ Đà Nẵng lên. 
Ta đã tổ chức đánh Cấm Dơi nhiều lần nhưng không bứt được cứ điểm này hoàn toàn. Có trận ta đánh quyết liệt, song sau đó địch chiếm lại và củng cố chắc hơn. Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân 1968, vào cuối năm 1967 cả Bộ Chỉ huy Sư đoàn 2 của Quân khu 5 đi khảo sát xây dựng phương án đánh Cấm Dơi, bất ngờ bị máy bay trinh sát địch phát hiện trên dải Động Mông - Đá Hàm của Hòn Tàu. Rồi máy bay trinh sát Mỹ gọi thêm 4 chiếc HU1A ào tới, quét trung liên, Sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ ra lệnh chiến đấu. Ở thế bất lợi, toàn bộ các đồng chí chỉ huy của Sư đoàn 2 từ Sư trưởng Lê Hữu Trữ đến Chính ủy Nguyễn Minh Đức, các cán bộ chủ chốt của các ban tham mưu, hậu cần, chính trị và các Trung đoàn trưởng 21, 31 đều hy sinh.

RỬA HỜN
Do làm nhiệm vụ đi thị sát, điều nghiên chuẩn bị một hướng khác. Lúc máy bay địch ào tới thì anh Nguyễn Chơn còn ở Sơn Long.

Tổn thất của Sư đoàn 2 quá lớn, khiến sau đó, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn Ba Gia do Nguyễn Chơn chỉ huy đã thề quyết tổ chức một trận tiêu diệt Mỹ để rửa hờn. Trận đánh lớn ở An Sơn (Hiệp Đức) nổ ra vào đầu tháng giêng năm 1968 đã loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên Mỹ là một chiến công được lập nên từ nỗi đau thương biến thành hành động như thế.

QUYẾT TÂM NHỔ GAI “ CẤM SƠN”
Trận đánh Cấm Dơi - Quế Sơn vào tháng 8.1972 là một chiến công lớn của quân chủ lực Khu 5, trong đó đơn vị thực hiện chủ yếu là Sư đoàn 711 (thành lập vào 7.11.1971 - Nguyễn Chơn từ Sư đoàn 2 mới được điều về chỉ huy Sư đoàn 711). Trước tháng 8 thì sư đoàn đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tổ chức các trận đánh “bóc vỏ” ngoại vi, và đến đầu tháng 8,.
Anh Hai Mạnh (Đại tướng Chu Huy Mân) xác định trận đánh Cấm Dơi có ý nghĩa chiến lược lớn nên đích thân xuống chỉ đạo, điều pháo xe kéo loại 130 ly, hỏa tiễn có điều khiển B72. Đây là loại hỏa lực mạnh lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường đồng bằng Khu 5, do  đó tạo thế bình phong từ phía sau để Nguyễn Chơn thỏa sức tung hoành.

Trước khi đánh Cấm Dơi, ta cũng đã giải phóng Hiệp Đức (30.4.1972), do đó có thể kéo pháo lớn lên các điểm cao để pháo kích vào căn cứ địch ở quận lỵ Quế Sơn. Trung đoàn 38 của anh Trí (sau này lên Thiếu tướng) nhận lệnh tác chiến trên vùng rộng phía tây nhằm nghi binh che mục tiêu chủ yếu.

Nguyễn Chơn vốn là người chỉ huy gan dạ, điều nghiên sát tận hàng rào căn cứ địch. Vì vậy, khi trình bày quyết tâm với quân khu anh cũng đầy cơ sở lập luận. Tuy nhiên, trận đánh sắp mở màn thì địch liên tục điều máy bay ở Đà Nẵng lên quần đảo, và các báo cáo quân báo cho thấy địch có thể nắm bắt ý đồ của ta nên rục rịch điều quân tăng viện..
Trong khi ta đã bố trí gần xong thế trận đánh vào Cấm Dơi mà quyết tâm đánh hay không còn phải bàn. Mà thực là địch dường như “ngửi thấy” ý đồ của ta, tăng viện thêm hai khẩu pháo lớn cho căn cứ này. Pháo địch vừa kéo lên tới quận lỵ Quế Sơn thì cũng đúng lúc ta pháo kích. Ai dè một quả pháo trúng ngay vào khẩu 175 ly của địch, một quả trúng vào khẩu kia làm hư bánh xe. Địch hoảng hốt, cho rằng ta phát hiện và điểm pháo phá hủy vũ khí hạng nặng của chúng. Tin này làm rúng động hàng ngũ địch ở căn cứ Cấm Dơi, tạo thêm điều kiện để anh Chơn đặt quyết tâm cao bứt nhổ cứ điểm này.
Lại nói khi ta đã cài gần xong thế trận đánh Cấm Dơi thì có điện của Bộ Tổng tham mưu yêu cầu dừng trận đánh nếu không chắc thắng. Lúc ấy, nếu quân của Nguyễn Chơn phải dừng và lui ra thì sẽ thiệt hại lớn.
Lại nói, Nguyễn Chơn là con người quyết đoán, nắm được thời cơ, ngày 18.8.1972, với sự hỗ trợ của hỏa lực các loại của Sư đoàn 711 và hỏa lực tăng cường của quân khu, có pháo 130 ly lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường đồng bằng Khu 5, dồn dập bắn vào Cấm Dơi, quận lỵ Quế Sơn. Cùng lúc các cánh quân vây lấn của ta tiếp cận cứ điểm địch. Đến 1 giờ 15 ngày 19.8, mũi ở hướng chủ yếu của ta là Trung đoàn 31 và mũi ở hướng thứ yếu của Trung đoàn 38 đã chiếm được các khu vực phân công. Ở hướng của Trung đoàn 38, phát hiện quân ta đang cắt rào, xe tăng địch tiến ra phản kích quyết liệt, ta và địch giành giật nhau từng mép rào, mõm đá…

8 giờ ngày 19.8.1972, theo tin quân báo, các đơn vị địch có thiết giáp đi kèm theo đường 105 từ Núi Quế tiến về phía Cấm Dơi, Sư đoàn 711 lệnh cho Trung đoàn 9 đánh chặn lực lượng địch tăng viện. Ta dùng hỏa lực mạnh với pháo 130 ly, hỏa tiễn có điều khiển B72, cối 120 ly,  hơn 10 khẩu DKZ 75 và 82 ly  bắn dồn dập các khu vực cố thủ của địch ở trong cùng. Dứt đợt pháo, quân ta xung phong vượt cửa mở đánh vào tung thâm. Quân địch chống cự quyết liệt nhưng đến 10 giờ sáng, bộ đội ta đã phát triển đến sở chỉ huy Trung đoàn 5 ngụy. Tên Đại tá Tôn Thất Lữ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 ngụy chết tại trận. Khoảng 11 giờ, lá cờ chiến thắng của ta được kéo lên trên cứ điểm địch. Cấm Dơi thất thủ, các lực lượng ta thừa thắng xông lên làm chủ hoàn toàn quận lỵ Quế Sơn, đồng thời triển khai truy kích các cánh quân địch tháo chạy.

18 giờ ngày 19.8.1972, trận đánh địch trong công sự vững chắc ở Cấm Dơi, tiêu diệt quận lỵ Quế Sơn và đánh địch tháo chạy kết thúc. Thung lũng Quế Sơn, sau 18 năm bị địch chiếm đóng đã được giải phóng.

Với trận tổng tấn công vào công sự vững chắc của địch ở Cấm Dơi, giải phóng hoàn toàn quận lỵ Quế Sơn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3 nghìn tên địch, xóa sổ phiên hiệu 7 tiểu đoàn địch. Đặc biệt trong trận này ta đã phá hủy 40 khẩu pháo lớn của địch, thu hơn 500 súng các loại và 30 xe cơ giới, trong đó có 12 xe M113 và xe tăng. Chiến công này đã vang danh trong lịch sử quân sự đất Quảng, là trận đánh thắng lớn sau mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, cho thấy thực lực ta có thể đánh bại quân chủ lực địch với cách đánh hiệp đồng binh chủng.

Nguồn : Báo QUẢNG NAM