LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG
Hiển thị các bài đăng có nhãn KỶ NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KỶ NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Kỷ niệm Nam Lào

Chuyện xảy ra vào mùa mưa năm 1987-1988 trong quá trình phục lót đón đánh bọn diệt chủng Pôn Pốt Iêng-xa-ri trên tuyến biên giới đông bắc Cam-pu-chia và Nam Lào.

Đơn vị chúng tôi (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) mở màn nổ súng nhưng lại để địch lọt qua. Để tìm hiểu rõ căn nguyên, chúng tôi phải ra trận địa xác minh từ điểm đứng, hướng bắn của chiến sĩ đến vị trí rơi của vỏ đạn và mất gần hai tiếng đồng hồ mới tìm ra “thủ phạm” nằm cách khu vực chiến sĩ cảnh giới của đại đội khoảng một mét.
Lý do vì quá bất ngờ khi địch vượt qua, một chiến sĩ buộc phải nổ súng để báo động nhưng đạn bị thối. Trong lúc lúng túng đối phó thì anh chàng bị hai quả đạn B40 của địch phủ đầu, khói bụi mù mịt nên không biết địch chạy về hướng nào.
Chiến sĩ này mới bổ sung vào đơn vị rồi đi chiến đấu ngay nên kinh nghiệm chưa có. Đại đội gọi đồng chí chiến sĩ nổ súng không thành, lên gặp tôi.

Lễ cầu may chia tay với cán bộ và nhân dân tỉnh Chăm-pa-sắc, Nam Lào khi hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn 1987-1988 (tác giả là người đeo kính).

Trước mặt tôi là một thanh niên trẻ măng, khôi ngô, được học hành bài bản trên quê hương Quảng Nam “trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” nhưng chưa hề có kinh nghiệm trận mạc. Lòng tôi thầm trách cán bộ thuộc quyền sao lại sử dụng một chiến sĩ “mới toanh” vào vị trí phục lót tại nơi trọng điểm của đơn vị. Vừa dặn mình và cũng để củng cố lòng tin cho chiến sĩ, tôi ân cần: “Về đơn vị ráng học tập cho thành thạo cách dùng súng và làm quen với chiến đấu để lần sau lập công nghe!”
- “Dạ”. Nhìn bóng chiến sĩ hòa vào bóng núi, tôi lại nghĩ suy về câu của đồng chí Tư lệnh mặt trận: “Không diệt được địch là tội lớn đó…”. Đầu tôi như có lửa, không phải chỉ có tội với Đảng, quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam, Cam-pu-chia mà còn có tội với chiến sĩ của mình, nếu như hôm đó bọn Pôn Pốt không thần hồn nát thần tính thì hai quả B40 chắc gì đã bỏ qua mạng sống kia.

Rời bản Ka Điêng, huyện Mường Mun, tỉnh Chăm-pa-sắc, Nam Lào tôi cứ đau đáu về yêu cầu nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của Đội trinh sát Trung đoàn 1 trong thời gian tới, cần phải nghiên cứu kỹ phương thức và thủ đoạn phục lót, tranh thủ huấn luyện bộ đội theo phương án, điều chỉnh lực lượng cho phù hợp và linh hoạt. Đối với chiến sĩ mới bổ sung phải dành nhiều thời gian và phân công cán bộ phân đội trực tiếp hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ từng động tác kỹ, chiến thuật và nếp sống chiến đấu. Chiến dịch còn dài, mùa mưa đã bắt đầu, phải hết sức cảnh giác và giữ gìn sức khỏe cho bộ đội để duy trì sức chiến đấu bền bỉ dẻo dai của một đơn vị “tinh nhuệ”, nếu để địch lọt lưới thì thật hổ danh “lính trinh sát Ba Gia”.

 
Chia tay buôn Hương, từ Mường Mun về sở chỉ huy sư đoàn tại bản Beo, đoạn đường gần 60 cây số, tôi và đoàn cán bộ lặng lẽ dồn bước trên con đường quân sự làm gấp sau cơn mưa chiều trời mát dịu mà lòng mãi nghĩ về đợt hoạt động của Trung đoàn bộ binh 1. Khi cách sở chỉ huy sư đoàn khoảng 500m, bộ phận hành chính báo lên xin cho nuôi quân về trước chuẩn bị cơm chiều. “Đồng ý”, tôi vừa nói xong thì đồng chí nuôi quân vừa đi tới phía sau hô lớn: “Thủ trưởng, dưới chân có mìn…”. Theo quán tính của bước chân quân hành tôi trụ mũi bàn chân và nâng gót đứng tại chỗ. Sau tôi là đồng chí Do, Phó chủ nhiệm Công binh Sư đoàn vượt lên phát lệnh mọi người tản ra hai bên đường cảnh giới, đồng chí Phương, Chủ nhiệm chính trị lên động viên bộ đội bình tĩnh, sẵn sàng chiến đấu.

Đồng chí Phạm Chân Lý, Phó tham mưu trưởng kiêm Trưởng ban Tác chiến triển khai lực lượng dò gỡ. Sau 30 phút, lực lượng công binh dò tìm và đưa lên 2 quả mìn 65-2A (1 quả đặt trên, 1 quả đặt dưới) và 4 quả B40 (3 quả đặt theo chiều thẳng đứng, 1 quả nằm ngang) nhưng rất may là 2 quả mìn 65-2A kíp lắp ngược… Tôi nhận định: Đây là bẫy của bọn Pôn Pốt cài để đánh xe cơ giới của ta thường vận chuyển bộ đội và hàng hóa từ Mường Mun vào sở chỉ huy sư đoàn. Khi chúng tôi đi trời chưa mưa nên không phát hiện. Lúc về, sau cơn mưa, nước chảy cuốn đi lớp đất ngụy trang phía trên dễ nhận thấy màu xanh của vỏ mìn 65-2A. Mặt khác, đây là đoạn đường do lực lượng công binh của sư đoàn chốt giữ và tuần tra bảo vệ thường xuyên nên bọn Pôn Pốt đặt vội vàng và đã lắp ngược kíp. Nếu không thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi và đoàn công tác.

Tôi cảm kích ôm chặt đồng chí nuôi quân, mắt nhìn sâu vào mắt thấy ấm áp tình yêu thương đồng đội, từ hai nửa trái tim rung lên cùng nhịp đập.

Nguồn : Thiếu tướng Trần Minh Hùng

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

KỶ NIỆM VỀ NGÀY 27 THÁNG 1 NĂM 1973 CỦA TÔI



Sa Huỳnh ngay sát núi, một khúc Trường Sơn hiểm hóc áp sát biển  nhô ra hai dãy đồi đá trọc như hai cánh tay khổng lồ ôm biển, tạo thành một cái vịnh nhỏ gọi là đầm Nước Mặn. Trên vị trí cao nhất của hai cánh tay này quân lực VNCH bố trí hai cứ điểm là Long Thạnh và Đá heo.
Cứ điểm Long Thạnh, nằm trên đỉnh một quả đồi lớn một phần là đất phần kia là đá. Con đường chính lên cứ điểm nằm ngoài quốc lộ I. Dưới chân là ấp Long Thạnh ôm lấy một phần đầm Nước Mặn.
Bao quanh cứ điểm Đá heo là những khối đá đã bị gió và sóng biển bào mòn hàng triệu năm trước. Con đường độc đạo lên cứ điểm Đá Heo là từ đồi Hải Thuyền
Đóng chốt  tại mỗi cứ điểm này là một trung đội lính VNCH.  Hỏa lực gồm 1 trung liên, 1 cối M19- 60mm, còn lại là trang bị cá nhân AR15, và M79.
Do chủ quan với địa thế, các cứ điểm này chỉ có 3 lớp rào khá tuyền toàng, gần như không có mìn. Hỏa lực yểm trợ cho các cứ điểm này là pháo từ hạm đội của Mỹ ngoài biển, pháo từ Núi Dâu và không quân.

Sau những lần trinh sát  ”Long Thạnh” và “ Đá heo”, phương án tác chiến đã được thông qua.
Kế hoạch chuẩn y, đại đội 1 đánh Long Thạnh, đại đội 3 đánh Đá Heo. Sở chỉ huy tiểu đoàn đóng ở ấp Long Thạnh, dưới chân cứ điểm Long Thạnh.
Việc chốt giữ sư đoàn đã giao cho các đơn vị bộ binh sau khi D10 hoàn thành trận đánh.
Chiều ngày 26 tháng 1 năm 1973 các anh Trần Đình, Nguyễn Niệm (Tiểu đoàn phó, D10) dẫn 2 đại đội xuống núi. Theo đường mòn, chúng tôi lặng lẽ hướng về Sa Huỳnh. Khoảng 20h thì đã tiếp cận đường quốc lộ I và chờ thời điểm vượt đường I.
Để tiếp cận hai cứ điểm này con đường bất ngờ và an toàn nhất, là qua hồ Nước mặn. Đầm nước mặn thông với biển nên tuân thủ theo quy luật của con nước. Buổi chiều đầm cạn, nước chỉ tầm thắt lưng, nhưng sau 23 giờ đầm bắt đầu ngập nước.
21h15 sau khi đã chốt hai đầu đường theo ám hiệu của tổ du kích dẫn đường,  chúng tôi vượt quốc lộ và tiến về hồ nước.
Đã chuẩn bị sẵn, mọi người nhanh chóng gói quần áo vào vải mưa làm phao, súng đặt trên phao, từng người,  cách nhau 3m lội qua hồ.
Màn đêm và con nước đã che hết mọi vết tích của cuộc hành quân tiếp cận cứ điểm.

Khi xang tới bên kia hồ, hai đại đội rẽ theo hai hướng, tôi đi theo C1.
Anh du kích và tôi lúc bò, lúc cúi đi trước dẫn cán bộ C1 tiếp cận mục tiêu. Khi qua hàng rào thứ hai, nơi lần trước đã một lần dẫn tổ chuẩn bị chiến trường tôi nói: “ Còn một lớp rào nữa là đến công sự địch, hàng rào rất tềnh toàng không có trở ngại lắm, các anh không được chủ quan, bảo đảm bí mật. Đến 24h05 thì nổ súng, ưu tiên bên Đá Heo nổ súng trước. Theo lệnh tôi về sở chỉ huy tiểu đoàn.”

Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt trong hầm tránh pháo cũ của một nhà dân bỏ hoang ngay dưới chân cứ điểm.
Đúng giờ G, phía cứ điểm Đá Heo bỗng sáng bừng lên, gần như đồng thời  cùng lúc là tiếng bộc phá, tiếng súng AK điểm nhịp chắc nịch ngay trên đỉnh Long Thạnh.
Trong hầm chỉ huy bộ đàm PRC25 được bật:
-        Đá Heo báo cáo, đã làm chủ trận địa.
-        Long Thạnh báo cáo, một số địch chạy về phía đường quốc lộ. Đã làm chủ trận địa. Bắt sống 2 tên và một phụ nữ. Ta hy sinh 2 1 bị thương.

Anh Niệm nói với tôi: “Em lên trên đó kiểm tra và giúp anh em làm công tác tử sĩ.”
Tôi chạy như phi lên trên đồi. Mọi người đang thu dọn, số khác vẫn truy kích những tên chạy theo hướng xuống quốc lộ I.
Sau khi kiểm tra, tôi gọi một chiến sĩ của C1 kiếm xẻng đi xuống lưng đồi tìm nơi chôn cất tử sĩ.

Hai chúng tôi chọn chỗ đất mềm và bắt đầu đào đất. Cái huyệt tôi đào mới ngập đầu gối thì nghe tiếng “Đềpa”. Linh tính tôi biết pháo bắn về phía chúng tôi, tôi nằm úp xuống cái huyệt mình đang đào còn chưa hoàn chỉnh thấy vừa in. Những tiếng nổ chát chúa nối nhau, mảnh pháo bay rào rào. Một ý nghĩ xoẹt trong đầu ” Mình đào huyệt cho chính mình” 

Dứt đợt pháo, như một phản xạ tự nhiên, tôi bật lên và lao thẳng xuống chân đồi. Mới chạy được một đoạn lại nghe tiếng “Đềpa” tôi nhanh chóng thu hai tay trước ngực cuộn người lăn tròn hướng về căn hầm sở chỉ huy mặc cho những mảnh pháo ràn rạt chém đứt lìa cành cây tán lá.

Tôi vừa kịp chui vào hầm thì cũng là loạt pháo thứ 3, căn hầm của sở chỉ huy rung lên đất rơi rào rào. Trong hầm, lờ mờ  tôi nhận ra bên phải tôi là anh Trần Đình, bên trái là anh Nguyễn Niệm, trước mặt là hai anh lính thông tin.
Một loạt pháo nữa, lần này tiếng nổ đanh hơn, có lẽ là đạn 175 chứ không phải là105, căn hầm như bị bứng lên. Anh Trần Đình bật lửa, trước mặt tôi một anh lính thông tin gục mặt đầu ngoẹo xang bên, máu giọt xuống áo. Một mảnh pháo xuyên qua lớp đất nóc hầm đâm vào đầu, khiến anh ấy hy sinh không kịp kêu lấy một tiếng, chiếc bộ đàm cũng bị một mảnh pháo khác xuyên qua, im tịt.

Lại một loạt pháo nữa, bỗng tôi thấy nhói ở lưng, dùng bàn tay trái tôi áp ngay lên chỗ vừa nhói đau ấy. Mảnh pháo còn nóng, cháy chín đốt 3 và 2 ngón tay áp út. Tôi nói:  Em bị mảnh rồi. Anh Niệm hỏi bị vào đâu? Tôi nói bị vào lưng nhưng không thấy máu.
Anh Trần Đình bật lửa thấy mảnh pháo cắm vào ngay bên phải sống lưng, một phần vẫn ở bên ngoài, do sức nóng mảnh pháo đã làm chín phần thịt xung quanh nên máu không chảy.
Anh Niệm nói với chúng tôi. Căn hầm này sắp không trụ nổi rồi, do máy bộ đàm trong hầm phát sóng nên địch nó bắn trúng, chúng ta phải chuyển chỗ thôi.
Anh hỏi tôi: Em đi được không?
Tôi cử động chân, tay thấy vẫn bình thường liền nói: Em đi được.
Anh Niệm nói: Ra khỏi đây em đi ngược lại về dẫy dừa lúc sáng lội xang, bộ phần hậu cần của tiểu đoàn ở đó. Anh còn phải liên lạc với anh em.

Tôi rời khỏi căn hầm “Tử địa” chạy theo các ruộng muối, tranh thủ pháo sáng nhận phương hướng tìm về trạm hậu cần là 4h30 sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Anh em trong tiểu đội trinh sát chúng tôi gặp lại nhau, không ai bị thương, ngoại trừ tôi với một mảnh pháo cắm ngay sát sống lưng.
Nằm trong lều, thỉnh thoảng Ngà cùng tiểu đội, quê ở Thanh Hóa lại vào nắn chân tôi và yêu cầu cử động.
Một ý nghĩ tiêu cực bám lấy tôi từ khi gặp lại anh em là nếu không may bị liệt chắc tôi tự sát. Dường như Ngà đọc được ý nghĩ đó, đã tịch thu trái lựu đạn US mà anh ấy cho tôi trong lần đi chuẩn bị Núi Dâu năm ngoái.

Hiệp định ngừng bắn chính thức có hiệu lực, những loạt pháo biển không còn bắn về Long Thạnh nữa. Cả ngày 27/1/1973 chúng tôi vẫn ở đất Long Thạnh sát với đầm Nước Mặn. Cho đến sáng ngày 28/1/1973 thuyền của dân chở tôi qua đầm về trạm phẫu thuật tiền phương.
Tôi còn nhớ mãi câu nói của anh Y sĩ trạm phẫu thuật tiền phương khi sử lý vết thương cho tôi “ Hồng phúc nhà ông thật lớn, mảnh pháo nó chê xương nên ăn cái thăn của ông, chỉ xang phải 1 cm thì ông tiêu rồi” Anh đưa cho tôi mảnh pháo và nói: “Giữ làm kỷ niệm”
Tôi được chuyển về bệnh viện tuyến trên với vết lõm trên lưng vì bị khoét đi phần thịt bị chín đường kính khoảng 3 cm.
Vết thương xoàng vậy mà mất đến 1 tháng cái ngón tay áp út mới duỗi thẳng ra được bởi hai đốt bị cháy khi giữ mảnh pháo nóng còn cái miếng khoét ở lưng thì sau hơn hai tháng mới liền sẹo.

40 năm trôi qua, những nét chính về trận đánh cứ điểm Long Thạnh Sa Huỳnh mà tôi tham gia giai đoạn đầu vẫn còn nguyên vẹn. Có một điều tôi biết được là những người lính của trung đoàn 141 đã phải chiến đấu và hy sinh dũng cảm khi chốt giữ Sa Huỳnh.

Đỗ Đặng Biên

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

ANH HÙNG TRẦN VĂN ĐÌNH



   Trần Văn Đình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó đặc công thuộc sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, tháng 8 năm 1960, Trần Văn Đình đã vận động 2 thanh niên nữa bí mật trốn ra vùng căn cứ của ta tham gia bộ đội. Trong những năm đầu cuộc sống chiến đấu gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, đồng chí được điều về đơn vị bộ binh, rồi làm chiến sĩ nuôi quân, đi sản xuất, nhưng vẫn luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tích cực, cần cù, tận tụy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

   Tháng 1 năm 1965, Trần Văn Đình được điều về đơn vị đặc công, đồng chí rất hăng hái luyện tập để nhanh chóng được tham gia chiến đấu. Mới học được 9 ngày, Trần Vãn Đình xin đi làm nhiệm vụ điều tra, chuẩn bị chiến trường.

   Trong 2 năm (1965 - 1966), Trần Văn Đình đã tham gia điều tra, chuẩn bị cho nhiều trận đánh, trực tiếp chiến đấu 9 trận, diệt 36 tên địch (có 7 tên Mỹ), bắt sống 5 tên, thu 21 súng các loại.

   Trong công tác điều tra, Trần Văn Đình có tác phong cụ thể, tỉ mỉ, chính xác. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tiến công dũng cảm, kiên cường, tác phong đánh nhanh, đánh mạnh, đánh thọc sâu, đánh bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.

   Trong trận đánh đồn Chà Vu (tháng 4 năm 1965), vừa được lệnh nổ súng, Trần Văn Đình đã nhanh chóng đánh thốc vào tung thâm vị trí địch. Bị thương vẩn không rời vị trí, đồng chí đã dũng cảm dùng tiểu liên, thủ pháo tiêu diệt từng hỏa điểm địch, chi viện tốt cho bạn diệt địch. Chỉ sau mấy phút, phân đội đồng chí đã diệt gọn vị trí địch và rút ra an toàn.

   Trong trận Ba Gia (tháng 5 năm 1965), vừa ở bệnh xá ra, vết thương chưa lành hẳn, Trần Văn Đình đã xin đi làm nhiệm vụ. Trận địa ta vừa bố trí xong thì địch phát hiện và nổ súng trước. Đồng chí dũng cảm lao lên như một mũi tên, giành quyền chủ động dùng tiểu liên diệt địch ngay từ đầu, truy kích sát gót địch, diệt 3 tên, bât sống 2 tên nứa. Sau đó đồng chí cùng phân đội làm nghi binh, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.

   Trong trận Chóp Chai (tháng 3 năm 1966), Trần Văn Đình được phân công đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí đã kiên trì bám địch và chuẩn bị đường tốt, đưa bộ đội vào nhanh và an toàn. Khi nổ súng, thấy mũi chính diện chưa lên được, Trần Văn Đình dẫn phân đội xông thẳng vào dùng thủ pháo đánh sập ba gian nhà rồi vượt đoạn hào giao thông đánh chiếm ổ đại liên của địch. Hỗ trợ cho mũi chính diện, Trần Văn Đình chủ động, dũng cảm lao vào đánh khu nhà chỉ huy, nhà điện đài, trận địa cối, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị vào diệt gọn 1 đại đội địch, làm chủ trận địa.

   Trong mọi mặt công tác, Trần Văn Đình luôn luôn gương mẫu đi đầu, sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thương yêu đồng đội, xây dựng đơn vị mạnh toàn diện, bảo đảm đã chiến đấu là giành thắng lợi.

   Trần Văn Đình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 bằng khen và giấy khen, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, Dũng sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ thi đua năm 1966 - 1968.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trần Văn Đình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Nguồn : DỰNG NƯỚC & GIỮ NƯỚC

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Người chỉ huy giữ chốt trên cao điểm: Păk Kụt. Tô Ngọc Lâm


Trích hồi ký “ Đường ra trận “
của ông Nguyễn Đăng San - CCB Sư đoàn 2

 Chúng tôi thuộc C7 – D2 – E1 – F2. Hay còn gọi là Đoàn Ba Gia. Mà không ai không biết đến một đơn vị đã được Đảng Nhà nước phong tặng ba lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Với những chiến công vang dội của chiến thắng Ba Gia-Vạn Tường ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi năm 1971 với chiến thắng ở Bản Đông- Sê Pôn- Đồi không tên. Điểm 660 và 723 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trên Cao nguyên Pôlôven. Đến chiến thắng lẫy lừng ở Đắc Tô, Tân Cảnh, năm 1972. Cùng mảnh đất khu 5 anh hùng.

Sau chiến dịch đánh ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào năm 1971 “Lam Sơn 719”. Đơn vị tôi nhận lệnh đến cao nguyên Pôlôven. Trung đoàn đánh thắng và giao cho trung đội tôi chốt giữ cao điểm Pắc Kụt, một cao điểm rất quan trọng của địch, vì đó là một điểm án ngữ cho một vùng rộng lớn của miền hạ Lào. Chính vì vậy, cao điểm trở nên vô cùng khốc liệt.

Địch cay cú bị quân ta đánh bật khỏi cao điểm mất vị trí án ngữ. Nên chúng đã điên cuồng dùng máy bay pháo kích và bộ binh đánh phá. Có bao nhiêu bom đạn ở vùng hạ Lào, đều được chúng huy động đến bắn phá cao điểm. Pháo từ xa nã tới, lính bộ binh phản công, chiếm lại cao điểm. Chúng bắn và la hét xông lên như một lũ thiêu thân.
Từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9, tháng 6, địch tấn công lên chốt vô cùng ác liệt. Nhưng chúng đã bị trung đội tôi đánh trả quyết liệt, làm cho giặc thiệt hại, ba đại đội lính nguỵ Lào & quân Thái Lan.

Mỗi khi địch xông lên, tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, bình tĩnh và ra lệnh.  “ Phải để địch đến thật gần mới được nổ súng…”. Những tên lính địch hiện rõ qua làn khói đạn, nghe rõ hơi thở hồng hộc của chúng. Địch tưởng đơn vị tôi không thể tồn tại sau những trận bom pháo dày đặc như mưa đổ xuống, có thằng kéo lê súng bước khật khưỡng như những thằng say rượu.

Tiểu đội trưởng Lâm ra lệnh: Bắn – chúng tôi nhất tề nổ súng, địch khựng lại, từng loạt đạn quật ngã binh lính địch liều lĩnh đi đầu. Chúng bất ngờ hoảng hốt trước cách đánh gần táo bạo gan dạ dũng cảm của tiểu đội, địch cuống cuồng la hét rút chạy. Anh Lâm hô lớn “ Xung phong ….”. Chúng tôi bật khỏi chiến hào, quét đạn tới tấp sát lưng địch, số địch còn lại tháo thân chạy xuống chân cao điểm. Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi thu lượm vũ khí trang bị địch bổ sung khi sắp hết đạn giữ chốt.

Máy bay, bom pháo địch đánh xuống, nổ gần ùng ục, oàng oàng. Tai chỉ còn nghe tiếng o….o. Hết bom, đến pháo kích, địch tụ lại dưới chân cao điểm, bắn đổ đạn rồi hò hét tiến lên. Nhưng không một thằng nào dám xuất hiện, vì cú đánh giáp mặt của đơn vị, đã dạy cho chúng biết thế nào là “ Cộng sản”.
Khói lửa mịt mùng đen đặc, tiếng súng dần thưa thớt. Tiếng máy bay ầm ì xa dần. Chỉ còn tiếng lốp đốp của những đám cháy quanh khu rừng gần cao điểm. Gió Lào cuồn cuộn mang theo cát bụi và cái nóng xua dần khói bom, khói súng. Trận địa quang dần, lúc này mới nhìn thấy mặt trời đỏ cũng dần xuống sau dãy núi phía xa.

Đồng đội tìm lại nhau theo vị trí phân công, chiến hào biến dạng. Khi đến vị trí của tiểu đội trưởng, thì anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chặt chiếc mũ cối ở bụng, lúc này tôi mới biết là anh bị thương rất nặng và ruột xổ ra nằm trong chiếc mũ anh đang nén giữ.  Máu từ bụng đã đổ ra đen quánh dưới vị trí anh đứng chiến đấu. Anh nói với mấy người còn lại trên cao điểm trong hơi thở đứt quãng.

 “…Các đồng chí … các em … quyết chiến đấu đến cùng, phải giữ chốt bằng được. Trả thù cho anh và đồng đội …”.
 Anh ra hiệu bằng cái đầu khẽ nhúc nhích, ba chúng tôi ghé sát vào người anh, nghe anh thều thào nói.
“… Sau này chiến tranh kết thúc … em nào còn sống trở về, nhớ tìm về quê cha mẹ anh ở đất Thái Bình kể lại trận đánh này cho gia đình anh nghe về cuộc chiến đấu giữ chốt và việc anh hy sinh ngày hôm nay…”

Ba chúng tôi là: Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến và Nguyễn Đăng San, từng người ghé sát xuống để anh đặt đôi môi khô ráp hôn vào má, bắt tay và anh mỉn cười thảnh thản ra đi tin tưởng vào những người còn lại.
Người tiểu đội trưởng dũng cảm kiên cường của đơn vị ra đi trong vòng tay của đồng đội lúc 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Chúng tôi còn lại trên cao điểm chống trọi giữ chốt. Mấy tiếng sau đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa, cho những cuộc chiến đấu tiếp theo.

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Hành trình về quá khứ

Khi chiến tranh đã lùi vào quá khứ, khi những đau thương chết chóc trên khu vực Núi Vú xưa đã được bao phủ một màu xanh sự sống, tình cờ phía Công ty Du lịch Ngọc Linh do chị Nguyễn Hải Ngọc làm giám đốc nhận được một lời đề nghị đặc biệt của một nhóm người Mỹ, trong đó có nhiều người từng tham chiến tại Việt Nam, họ muốn được thăm lại chiến trường xưa trên cao điểm 504 thuộc địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam để trao lại kỷ vật chiến tranh.

Chiến thắng oai hùng


Trận đánh trên cao điểm 504 (Núi Vú, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) diễn ra rạng sáng 15-6-1966. Sau loạt đạn đầu tiên, đã có 6 lính thủy đánh bộ Mỹ chết và bị thương. Đến 8h sáng ta tiếp tục bắn rơi 1 trực thăng từ Chu Lai lên chi viện. Sau khi đẩy lui quân địch và làm chủ trận địa, bộ đội ta được lệnh rút quân.

         Ông Raymond Stanley Hildreth trao di vật chiến tranh             cho Đại tá Hoàng Minh Tiến.
Đại tá Hoàng Minh Tiến, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây (cũ) - một người lính từng tham gia trận đánh Núi Vú kể lại: "Bắt đầu từ mùa xuân năm 1966, những người lính Sư đoàn 2 chúng tôi đến từ những vùng Đồng bằng Bắc bộ mà nhiều nhất là tỉnh Hà Tây cũ được lệnh lên đường hành quân vào chiến trường quân khu 5. Ba tháng hành quân vất vả, đến tháng 4-1966 chúng tôi có mặt tại chiến trường Quảng Nam. Sau một tháng nghiên cứu đánh địch cùng bộ đội địa phương, chúng tôi được lệnh hành quân xuống vùng ven biển. Đúng lúc này Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Chu Lai". Rạng sáng 14-6, một trung đội biệt kích Mỹ được yểm trợ tối đa bằng không quân đã tập kích xuống cao điểm Núi Vú. Xác định quyết tâm ra quân là chiến thắng, Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 (Tiểu đoàn Bình Minh), Sư đoàn 2, quân khu 5 do chính trị viên Trịnh Văn Hân (hoặc Hàn) chỉ huy đã bí mật bao vây tập kích Núi Vú. "Trận đánh đầu tiên của những người lính Sư đoàn 2 từ miền Bắc mới vào đã diễn ra trên một địa hình trống trải toàn cỏ tranh, mà địch lại từ trên cao kết hợp cùng sự yểm trợ tối đa của 5 máy bay C130 vừa thả pháo sáng vừa bắn đạn 30 ly bắn xối xả vào đội hình quân ta. Nhưng chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ làm chủ cao điểm và được lệnh rút trước khi máy bay địch quay lại dội bom" - Đại tá Hoàng Minh Tiến nhớ lại.

45 năm sau. Năm 2011. Đúng vào thời điểm xảy ra trận đánh (ngày 15-6), ông Raymond Stanley Hildreth (SN 1947) một cựu binh Mỹ từng tham gia vào trận đánh Núi Vú khi trở lại chiến trường xưa đã phải thốt lên: "Thật đáng khâm phục, đáng khâm phục các bạn Việt Nam! Sau từng đấy năm tháng day dứt mong được trở lại chiến trường xưa, giờ được đứng giữa mảnh đất cũ đã hồi sinh bằng màu xanh cây trái, tôi đã từng khâm phục tinh thần quả cảm, anh dũng bao nhiêu giờ càng khâm phục sức sống mãnh liệt trong công cuộc tái thiết đất nước Việt Nam của các bạn bấy nhiêu".


Hành trình ngược về quá khứ


Chị Nguyễn Hải Ngọc, Giám đốc Công ty Du lịch Ngọc Linh cho biết, để có được chuyến đi cảm động và giàu ý nghĩa này, những người trong đoàn đã phải vất vả hơn 10 tháng trời để chuẩn bị. Ban đầu là tìm về cao điểm 504. Sau một thời gian dài ít được nhắc tới, địa danh này dường như mờ mịt trong tất cả các bản đồ chuyên ngành quân sự lẫn sử liệu. Nhưng nhờ sự hướng dẫn tận tình của người cha là ông Nguyễn Tiến Hải, cựu chiến binh đoàn pháo binh Biên Hòa, chị Ngọc cũng đã biết cách lần hồi tìm về được Sư đoàn 2, quân khu 5. Lật giở những trang truyền thống của đơn vị, chị đã xác định chính xác cao điểm 504 chính là địa danh Núi Vú, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.


Sau nhiều lần một mình lặn lội tìm đến địa danh trên, khu vực Núi Vú còn hoang vu khi chưa hề có tên trong bản đồ du lịch, chị Ngọc bằng kinh nghiệm từng tổ chức hàng chục chuyến đi trở lại chiến trường xưa cho các đồng đội của cha mình đã có sáng kiến lên một kế hoạch du lịch khá táo bạo. Theo chị Ngọc: "Nguyện vọng của những người bạn Mỹ, mong muốn về thăm lại chiến trường cũ để trao trả hàng chục bức ảnh bộ đội ta hy sinh đã thôi thúc tôi phải có trách nhiệm làm tròn bổn phận của thế hệ trẻ hôm nay như một cầu nối cho những tấm lòng nhân ái tìm đến nhau". Thế rồi công sức hàng tháng trời lên kế hoạch chuẩn bị cho hành trình tìm về quá khứ đã được đền đáp, qua hàng chục đầu mối liên lạc, chị Ngọc đã tìm được Đại tá Hoàng Minh Tiến - nhân chứng sống của trận đánh Núi Vú tham gia chuyến đi đầy ý nghĩa theo nguyện vọng những người cựu binh Mỹ.


Ý nguyện của chuyến đi, nghĩa cử của những người bạn đến từ nửa vòng Trái đất cũng đã được UBND tỉnh Quảng Nam ủng hộ và tạo mọi điều kiện. Để tạo mọi thuận lợi cho đoàn cựu binh Mỹ quay trở về chiến trường xưa với một sứ mạng nhân văn, ông Lê Phước Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã ký Văn bản số 2005 /UBND-ĐN ngày 10-6-2011 về việc cho phép tổ chức gặp mặt cựu chiến binh Việt Nam và Hoa Kỳ và các hoạt động thăm lại chiến trường xưa. Không những vậy, mục đích gặp mặt các cựu chiến binh tham gia trận đánh tại huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam để hoàn trả một số di vật cá nhân của các liệt sỹ tham gia trận đánh trên gồm bằng khen, ảnh, thư... đã được UBND tỉnh Quảng Nam khéo léo chuyển thành cuộc giao lưu trọn nghĩa vẹn tình giữa các bạn Mỹ và ta. Trong cuộc giao lưu thấm đậm tình hữu nghị, nhiều thế hệ người Mỹ trong đó có anh bạn trẻ Maxwell Thomas Harris (SN 1990) con trai của một người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam đã bày tỏ sự khâm phục và tình cảm chân thành của những người Mỹ hôm nay hướng đến Việt Nam.


Chuyện về 39 bức ảnh


Đi bộ suốt 6 giờ đồng hồ (từ 9h sáng đến 15h chiều 15-6-2011) quanh co qua các ngọn đồi huyện Tiên Phước để lên được đỉnh Núi Vú, những người lính Mỹ từng tham chiến tại nơi đây càng thêm ngưỡng mộ sức sống của dân tộc Việt Nam. Đại tá Hoàng Minh Tiến nhớ lại, từ lúc mới gặp gỡ những cựu binh Mỹ, bao ký ức chiến tranh ùa về, tôi đã hỏi: Các ông giờ quay lại Việt Nam thấy đất nước chúng tôi thế nào? Họ đã thẳng thắn trả lời: Người dân Việt Nam luôn nhìn chúng tôi cởi mở và lúc nào cũng thường trực nụ cười thân thiện trên môi. Rồi ông Raymond Stanley Hildreth nói tiếp: Kết thúc trận đánh Núi Vú, chúng tôi thu dọn chiến trường được 39 liệt sỹ, chủ yếu họ hy sinh vì bom và súng 30 ly bắn từ máy bay trên đường rút khỏi cao điểm. Chúng tôi cũng trở lại căn cứ Chu Lai và cá nhân tôi đã giữ lại 39 bức ảnh cùng nhiều kỷ vật của các liệt sỹ từ lúc đó đến nay. Khi hai nước chúng ta bình thường hóa quan hệ trở lại, tôi đã khao khát quay trở về Việt Nam để trao trả những kỷ vật thiêng liêng này cho thân nhân của họ. Kết thúc cuộc chiến, tôi đã nghe nhiều về nhật ký Đặng Thùy Trâm, thật khâm phục tinh thần anh dũng của các bạn. Giờ được góp một chút để hàn gắn vết thương chiến tranh, tôi và những người bạn như trút được gánh nặng và nỗi day dứt tủi hổ của thời trai trẻ đã gây đau thương cho một đất nước tươi đẹp, một dân tộc yêu chuộng hòa bình... Ông Raymond Stanley Hildreth tâm sự, hằng ngày ngắm nhìn 39 bức ảnh những người con đất Việt đã ngã xuống cho quê hương, trái tim ông càng thấy thôi thúc phải sớm trở về Việt Nam khi thời gian, gánh nặng về tuổi tác không chờ đợi ai.


Hiện tại, sau khi cùng đồng đội nghiên cứu kỹ 39 bức ảnh do những người bạn Mỹ trao trả, Đại tá Hoàng Minh Tiến và những đồng đội cũng chỉ nhận ra một số đồng đội cũ. Một ban liên lạc những người lính Đại đội 3, Tiểu đoàn Bình Minh, Sư đoàn 2, quân khu 5 được gấp rút thành lập với ý nghĩa sẽ mang đến tận tay thân nhân gia đình 39 liệt sỹ những kỷ vật sau bao năm tháng ngóng trông. Đại tá Hoàng Minh Tiến kể: Sau khi nhận được 39 di ảnh của đồng đội, tôi đã tìm được ông Nguyễn Văn Tôn ở Nhà máy Pin Văn Điển và ông


Vinh - nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội cối 82 của Trung đoàn để thành lập một ban liên lạc. Qua câu chuyện của ông Tôn, tôi mới được biết, ngay sau khi trận đánh kết thúc, chính trị viên Trịnh Văn Hân (hoặc Hàn) đã hy sinh. Còn Trung đội trưởng Vượng quê ở Thái Bình giờ ở đâu và như thế nào anh em cũng không nắm rõ. Với mong muốn Báo Hànộimới sẽ là nhịp cầu nối để thân nhân các liệt sỹ tìm đến ban liên lạc, Đại tá Hoàng Minh Tiến cung cấp thêm, ông Raymond Stanley Hildreth đã hứa, sau khi về nước sẽ gửi sang cho chúng tôi cuốn nhật ký ghi chép tỉ mỉ về trận đánh Núi Vú với mong muốn để thân nhân 39 liệt sỹ trong bức ảnh mau chóng tìm được và đưa các anh trở về quê hương.

Nguồn : Ngân Hạ 

Đánh nhanh thắng lớn Đắc Tô - Tân Cảnh

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về phối hợp với các chiến trường mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, tháng 3-1972, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch tiến công ở khu vực Bắc Tây Nguyên (gồm Kon Tum, Gia Lai). Mục đích chiến dịch là nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng địch, giải phóng Đắc Tô-Tân Cảnh và thị xã Kon Tum, mở rộng vùng căn cứ phía tây Gia Lai, Đắc Lắc, nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ.
Chiến dịch diễn ra rất quyết liệt từ ngày 30-3 đến 5-6-1972. Chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất từ ngày 30-3 đến 24-4-1972 và đợt 2 từ ngày 25-4 đến 5-6-1972. Đây là chiến dịch thể hiện cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng giữa ta và địch, đặc biệt là sự sáng tạo về nghệ thuật lập thế trận và nghi binh, hiệp đồng binh chủng đánh địch của các lực lượng tham gia chiến dịch của ta.
Ban đầu, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định phương án tiến công quân địch phòng ngự ở Đắc Tô-Tân Cảnh theo cách bóc vỏ, đánh từ ngoài vào trong. Thế nhưng sau khi nghiên cứu kỹ điều kiện địa hình, cách bố trí phòng ngự của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch thống nhất đánh theo phương án đề xuất của Sư đoàn 2: Bí mật mở một con đường nhanh chóng đưa lực lượng và phương tiện vũ khí áp sát, bất ngờ đánh thẳng vào Đắc Tô-Tân Cảnh từ hướng đông - hướng địch bố trí phòng ngự sơ hở.
Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu.
Để tạo thế bảo đảm cho phương án đánh địch từ hướng đông, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng một bộ phận lực lượng công binh mở con đường 50A theo sườn phía đông dãy Ngọc Linh để đưa lực lượng, nhất là xe tăng, pháo binh, pháo phòng không có xe kéo gấp rút vào vị trí tập kết chiến dịch. Cùng thời gian này, ta tổ chức lực lượng làm lại cầu Đắc Mót (trên đường số 18 bị địch phá), tiếp tục mở đường 70B qua dãy núi phía tây sông Pô Cô sang Võ Định.
Trong quá trình xây dựng đường và triển khai lực lượng, Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức một số đơn vị tập kích vào các vị trí vòng ngoài của địch ở tây sông Pô Cô, sau đó tiến vào bao vây Võ Định; đồng thời ta sử dụng 2 trung đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh cắt các vị trí địch trên đường số 14 và 19, thực hiện bao vây chia cắt chiến dịch. Lợi dụng thế bố trí dài và hẹp của địch trên địa bàn rừng núi vùng bắc Tây Nguyên, ta tạo thế chia cắt buộc địch phải đối phó cả ở phía trên và dưới thị xã Kon Tum, khiến 2 lữ đoàn dù và Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn bị giam chân không thể ứng cứu cho nhau. Cụm phòng ngự của Sư đoàn 22 (thiếu) của Quân đội Sài Gòn ở Đắc Tô-Tân Cảnh cũng bị cô lập. Sau khi tập trung tạo thế trực tiếp đánh vào Đắc Tô-Tân Cảnh, bộ đội ta tiến công bất ngờ vào hệ thống phòng ngự sơ hở do địch không thể ngờ tới để tiêu diệt chúng.
Điểm đặc sắc của chiến dịch là nghệ thuật nghi binh hạn chế thế mạnh của địch, phát huy thế mạnh của ta. Quyết tâm chiến dịch là: Để nghi binh không cho địch phát hiện được ý đồ của ta và để chúng vẫn xác định hướng tiến công chủ yếu vào Đắc Tô-Tân Cảnh từ đường số 18, Bộ tư lệnh chiến dịch thống nhất với Sư đoàn 2 sử dụng một số đơn vị, chủ yếu là hai trung đoàn 1 và 141 (Sư đoàn 2), tập kích vào một số vị trí địch ở vòng ngoài và tổ chức một số trận địa phòng không chi viện hỏa lực, khiến địch phải đưa quân ra đối phó. Ta tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch ở phía tây sông Pô Cô, tạo điều kiện để tập kết bộ đội chủ lực tiến công vào mục tiêu chủ yếu. Các hoạt động nghi binh chiến dịch đã chín muồi, thời cơ đánh Đắc Tô-Tân Cảnh xuất hiện. Sau đó, ta tập trung lực lượng bí mật cơ động theo đường 50A nhanh chóng triển khai, bất ngờ tiến công Đắc Tô-Tân Cảnh.
Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, bộ đội ta vận dụng cách đánh vây ép, buộc địch phải co cụm lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng cấp sư đoàn vào cụm cứ điểm Đắc Tô-Tân Cảnh. Khi nhận nhiệm vụ, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 66, Tiểu đoàn đặc công 37 cùng một đại đội xe tăng và một bộ phận pháo binh, pháo phòng không cùng lực lượng vũ trang địa phương tập trung lực lượng và vận dụng cách đánh phù hợp. Đặc biệt, ta bí mật triển khai lực lượng, trong đó bố trí cả xe tăng và pháo lớn ở nơi hiểm yếu, hướng địch không ngờ, khi nổ súng phát huy được sức mạnh tổng hợp, nhanh chóng đánh vào các mục tiêu chủ yếu, phá vỡ hoàn toàn căn cứ phòng thủ then chốt vững chắc của địch ở Đắc Tô-Tân Cảnh. Phát huy thắng lợi, cả bộ binh và xe tăng ta phát triển tiến công căn cứ Diên Bình. Từ ngày 28-4 đến 5-6-1972, bộ đội ta phát triển tiến công vào cụm phòng thủ thị xã Kon Tum, gây cho địch một số thiệt hại.
Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên đã vận dụng thành công nghệ thuật lập thế trận, điều địch ra khỏi công sự để tiêu diệt, làm giảm sức chiến đấu của chúng; đồng thời thực hành nghi binh buộc địch phải để một bộ phận lực lượng quan trọng ở trong thị xã đối phó, tạo điều kiện cho ta tập trung tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt địch. Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên đã thực hiện được phần cơ bản của ý định chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nguyên, tạo hành lang nối thông giữa Mặt trận Trị - Thiên, Tây Nguyên với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ, góp phần tạo thế và lực phát triển cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi trên chiến trường miền Nam năm 1972.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

GIẢI PHÓNG TAM KỲ

Huyện Tiên Phước lúc bấy giờ được xem như "nóc nhà” của Quảng Nam – Quảng Đà. "Nếu Tiên Phước - Phước Lâm mất, Tam Kỳ và đường 1 sẽ khó lòng giữ được, chiến trường Quảng Đà - Quảng Ngãi sẽ bị chia cắt”. Trước nhận định trên, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 quyết định tập trung lực lượng chủ lực tiêu diệt Chi khu quận lỵ huyện Tiên Phước.


Để chuẩn bị cho trận đánh lớn này, cuối tháng 12-1974, Tiểu đoàn Công binh (Sư đoàn 2) đã phải làm việc cật lực với hàng nghìn ngày công, để xây dựng 6 trận địa pháo và hàng chục cây số đường từ hướng Sơn Cẩm Hà vào, sẵn sàng cho xe tăng của quân ta xuất kích và phục vụ công tác kéo pháo lên đồi. Mặt trận được chia làm hai hướng, phía Bắc do Thượng tá Vũ Đình Nã - Sư đoàn phó làm chỉ huy trưởng, Phó Chính ủy Sư đoàn Trương Trung Thắng làm Chính ủy Mặt trận. Ta bố trí 3 trung đoàn, gồm Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 và Trung đoàn 368 pháo binh cùng các đơn vị trực thuộc.

Phía Nam do Đại tá Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng - Chỉ huy trưởng Mặt trận phụ trách, Chính ủy Sư đoàn Mai Thuận làm Chính ủy Mặt trận. Phía này, được bố trí Trung đoàn Bộ binh 1, Lữ đoàn 52, Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 10 (đặc công). Ngoài ra, còn được tăng cường Trung đoàn 572 và Tiểu đoàn Vận tải.

Vào lúc 4 giờ 30 phút ngày 10-3-1975, cùng với tiếng súng khai hỏa ở Buôn Mê Thuột trên chiến trường Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Tiên Phước đã đồng loạt tập kích vào các cứ điểm, cơ quan đầu não của địch. Đến 16 giờ, cả 3 hướng tiến công của quân ta đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt Chi khu quận lỵ Tiên Phước, Chi khu quận lỵ Phước Lâm và cụm cứ điểm Suối Đá. Ta đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã toàn bộ bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, thu toàn bộ vũ khí trang bị, giải phóng một khu vực rộng lớn với 21 ngàn dân.

Ông Hoàng Minh Thắng – Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) nhận định: "Chiến thắng Tiên Phước - Phước Lâm tạo được địa bàn đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Tín, giải phóng thị xã Tam Kỳ, giải phóng Quảng Nam - Đà Nẵng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh. Đúng như vậy, sau khi giải phóng Tiên Phước, đến ngày 14-3, quân ta tiến vào giải phóng các xã vùng Đông Thăng Bình. Đêm 23-3, các lực lượng tham chiến ở Phước Lâm, Tiên Phước được lệnh tiếp tục tấn công tiêu diệt địch, tiến về giải phóng Tam Kỳ. Ngày 24-3, Sư trưởng Nguyễn Chơn ra lệnh cho quân ta đồng loạt đánh vào thị xã Tam Kỳ, thủ phủ là tỉnh đường Quảng Tín, từ các hướng theo vòng vây siết chặt. Từ Tiên Phước đánh về ta diệt gọn Trung đoàn 4 - Sư đoàn 2 ngụy làm chủ khu vực ngã 3 Trường Xuân - sân bay Kỳ Bích. Hướng phía Tây ta đánh chiếm Cẩm Khê, Cốc Rạng; Liên đoàn 12 biệt động ngụy bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy về Quán Rường... Tuyến phòng ngự lâm thời phía tây Tam Kỳ của địch bị phá vỡ. Thừa thắng, quân ta từ 3 hướng Đông - Tây - Nam có xe tăng dẫn đầu ồ ạt tấn công vào thị xã Tam Kỳ. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 24-3-1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam đã phất phới tung bay trên nóc toà tỉnh đường Quảng Tín, thị xã Tam Kỳ - Tỉnh lỵ đồng bằng duyên hải miền Trung đầu tiên được giải phóng, tạo thế và lực cho dân và quân ta tiến công giải phóng thành phố Đà Nẵng, góp phần cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Cuộc gặp gỡ ấm tình đồng đội


Từ ngày 24 đến ngày 26-7, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 (Quân khu 5) vui mừng được đón 69 nữ cựu quân nhân nguyên là cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3 nữ vận tải anh hùng về thăm và giao lưu tại Sư đoàn.
Đây là cuộc gặp có ý nghĩa sâu sắc, thắm đượm tình đồng chí, đồng đội để các nữ cựu quân nhân được thăm lại Sư đoàn, ôn lại những tháng ngày lịch sử cống hiến tuổi thanh xuân vì sự nghiệp giải phóng của dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc; cũng là dịp để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn khơi dậy niềm tự hào về quá khứ vinh quang của đơn vị.
Đại diện các nữ cựu quân nhân giao lưu trong chương trình "Một thời để nhớ". Ảnh: Huỳnh Trần Văn.
Sau khi đến Sư đoàn, các nữ cựu quân nhân đã đến thăm Tiểu đoàn vận tải 25 (Tiểu đoàn VT19 cũ), thăm cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Bộ binh 38, Trung đoàn Bộ binh 1, xem phim truyền thống về Sư đoàn, truyền thống ngành vận tải. Đặc biệt, chương trình giao lưu nghệ thuật đặc biệt mang chủ đề "Một thời để nhớ" giữa cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn với các nữ cựu quân nhân được đầu tư dàn dựng công phu với nhiều tiết mục đặc sắc đã để lại sự xúc động trong lòng người xem; là tình cảm mà cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn muốn dành tặng các cô, các chị, những người đã dành cả tuổi thanh xuân của mình vì độc lập tự do của dân tộc. Tại buổi giao lưu cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn cũng đã được nghe các nữ cựu quân nhân chia sẻ về những tháng ngày chiến đấu và hy sinh oanh liệt của mình.
Trong dịp này Sư đoàn cũng đã tổ chức khám sức khỏe cho các nữ cựu quân nhân tại Tiểu đoàn quân y 24, trao tặng 2 căn nhà đồng đội cho cô Phạm Thị tuyết (Đà Nẵng) và cô Nguyễn Thị Út (Quảng Nam), mỗi căn trị gía 60 triệu đồng, hỗ trợ sửa nhà cho 3 cô mỗi suất 10 triệu đồng và tặng 7 sổ tiết kiệm trị giá 35 triệu đồng.
 Cô Đặng Thị Lưu Hoa, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 3 tâm sự: Được về thăm lại Sư đoàn, thấy đơn vị khang trang và chính quy, chúng tôi rất vui mừng. Đặc biệt, với sự đón tiếp nhiệt tình, chu đáo của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn cũng như của Bộ Tư lệnh quân khu 5 đã tạo điều kiện để chúng tôi được gặp lại nhau, cùng ôn lại những kỷ niệm một thời hào hùng, oanh liệt của mình ngay tại Sư đoàn. Trong những năm chiến tranh, mỗi lần kè thù nghe danh “Sư đoàn thép” đều xiêu hồn, bạt vía, chúng tôi mong cán bộ, chiến sĩ hôm nay thấy được niềm vinh dự, tự hào khi được là người lính Sư đoàn 2, đoàn kết cùng nhau xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh toàn diện, xứng đáng là Sư đoàn anh hùng.
Các nữ cựu quân nhân chụp ảnh kỷ niệm. Ảnh: Huỳnh Trần Văn.
“Những ai đã từng đi qua chiến tranh mới hiểu hết giá trị của những ngày hòa bình mà mình đáng sống. Sự hiện diện của các cô, các chị ở đây cùng với những câu chuyện bi hùng của các chị hơn gấp trăm lần bài diễn thuyết hay mà chúng tôi muốn nói với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn về những cống hiến hy sinh của thế hệ đi trước”, Đại tá Nguyễn Thanh Hoàng, Chính ủy Sư đoàn chia sẻ.
Cũng nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày thương binh, liệt sĩ (27-7), Sư đoàn đã tiến hành nhiều hoạt động tri ân “đền ơn đáp nghĩa”. Sư đoàn đã tổ chức 4 đoàn đi thăm và tặng quà thương bệnh binh của Sư đoàn qua các thời kỳ trên địa bàn Quân khu, trao tặng 2 căn nhà tình nghĩa cho 2 đồng chí là con của thương binh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gặp mặt tặng quà cho các thương binh, thân nhân liệt sĩ hiện đang công tác tại Sư đoàn với số tiền hàng trăm triệu đồng.
Nguồn :Lê Thị Hoa

Gặp mặt nữ cựu quân nhân Đại đội 3, tiểu đoàn vận tải 19


Sáng 26-7, Sư đoàn BB 2 đã tổ chức buổi gặp mặt nữ cựu quân nhân Đại đội 3, tiểu đoàn VT 19 trong kháng chiến chống Mỹ. Về dự buổi gặp mặt có 69 nữ nguyên là cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 3, Tiểu đoàn Vận tải 19 (Sư đoàn 2) trong kháng chiến chống Mỹ, hiện đang sinh sống trên địa bàn Quân khu nhân kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ, và kỷ niệm 47 năm Ngày truyền thống Sư đoàn BB2 (20-10-1965 – 20-10-2012).
Ảnh: Lê Nam
Ảnh: Lê Nam
Trước buổi gặp mặt, các cựu nữ quân nhân đã đi thăm phòng truyền thống Sư đoàn BB2, thăm những kỷ vật, hình ảnh một thời đấu tranh kiên cường, bất khuất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Ảnh: Lê Nam
Ảnh: Lê Nam
Tại buổi gặp mặt, các nữ quân nhân Tiểu đoàn Vận tải 19 đã ôn lại những ngày tháng hào hùng, những trận đánh oanh liệt của các chị trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước như: trong trận chiến đấu ngày 13-8-1967 chỉ với 30 nữ Đại đội 3-Tiểu đoàn VT 25 đã đánh bật 4 đợt tiến công của 1 tiểu đoàn biệt động và 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ; dấu chân của các chị đã đi khắp các chiến trường Quảng Nam, Bình Định, Tây Nguyên hay đường 9 Nam Lào để truyền tin, vận tải lương thực, súng đạn… sự đóng góp không nhỏ của Tiểu đoàn VT 19 giúp cho Sư đoàn có những chiến thắng oanh liệt trong kháng chiến, Sư đoàn đã 2 lần được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Ảnh: Lê Nam
Ảnh: Lê Nam
Cũng tại buổi gặp mặt thân mật này, Sư đoàn BB2 đã công bố quyết định xây dựng 2 nhà tình nghĩa (trị giá 60 triệu đồng/căn nhà) cho 2 nữ quân nhân khó khăn về nhà ở, tặng 7 sổ tiết kiệm (trị giá 5 triệu đồng/sổ tiết kiệm) và hỗ trợ 3 suất trợ cấp (trị giá 10 triệu đồng/suất) cho 3 nữ quân nhân có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, Sư đoàn còn trao 69 suất quà cho các nữ quân nhân Tiểu đoàn VT 19 (trị giá mỗi suất 1,6 triệu đồng).
Nguồn : Lê Nam

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

NGÀY ĐẦU TIÊN LÀM LÍNH SƯ 2

Khoảng trung tuần tháng 2 năm 1972 đại đội tôi hành quân qua binh trạm 12 thuộc đoàn 559. Chúng tôi mỗi người một ba lô trên lưng với tất cả trang bị được cung cấp từ miền bắc, trước ngực một khẩu AK47, thắt lưng một băng đạn và 2 trái mỏ vịt, trên cổ vắt vẻo một ruột ngựa khoảng 6 – 7 kg gạo.

Đường đi thì hết xuống dốc lại lên dốc, mà cái dốc gần cuối thuộc binh trạm 12 sao dài đến thế, người không mang vác gì cũng còn phải nghỉ chân huống hồ mang nặng.
Đội hình đại đội giãn cách mỗi lúc một xa, nhóm tôi có 3 anh em cùng huyện luôn chờ nhau cùng leo dốc.
Đi trước tôi là cậu Lựu ( Đỗ Văn Lựu – Quê hương chính gốc của chiếc gậy trường sơn ) .

Mệt mỏi chúng tôi rệu rã  đi như đếm từng bước.
Tôi thấy có 2 người trang phục bà ba đi vượt lên. Người đi trước không mang ba lô mà thay vào đó là  một chiếc gùi, còn thì cũng y chang súng và ruột gạo vắt cổ. Người thứ hai nhỏ con hơn nhưng gần như không mang vác gì, tòng teng một chiếc gùi nhỏ trên lưng, tay cầm cây gậy chống.

Hai người đi có thể nói là khá nhanh, khi vượt qua cả 3 chúng tôi bỗng anh Lựu nói to :
- Ông gì ơi ! ông có lên dốc không mang giùm tôi cái ruột gạo với, Lựu nói to lẫn tiến thở .
Người đi sau dừng lại, chờ khi anh Lựu đi đến gần rồi nói :
- Bạn mang nặng lắm phải không ? Tôi cũng lên dốc đây, đưa tôi mang đỡ cho và tiện tay nhắc luôn cái ruột gạo của Lựu vắt lên vai mình. Chưa hết anh ta lại có nhã ý mang hộ khẩu súng lủng lẳng trước bụng nữa.
Anh chàng Lựu rối rít cảm ơn và nói :
- Ông mang hộ tôi cái ruột gạo là tốt rồi, súng thì không nhờ người khác đươc. Như thể sả cơn mệt Lưu văng ngay cái văn phong của lính “ Đ.. mẹ cái dốc đ.. gì mà dài thế “
- Còn một đoạn nữa thôi là tới đỉnh rồi,  mà cũng sắp tới đơn vị rồi. Người mang hộ Lưu ruột gạo vừa đi vừa nói vọng lại .

Ba anh em chúng tôi đỡ nhau và cố gắng để không bị rớt phía sau. Khi chúng tôi leo tới đỉnh thấy cả hai người ngồi nghỉ. Nhận lại bao gạo, anh chàng Lựu nhe cả bộ hàm răng cười cám ơn lấy cám ơn để.

Khác với mọi hôm, thường khoảng  hơn 16 giờ mới tới trạm nhưng hôm nay mới 14 giờ chúng tôi đã đến nơi.
Đây không phải là trạm giao liên mà là hậu cứ. Ai đó đã làm sẵn cho chúng tôi những chiếc phòng ngủ chìm dưới mặt đất, có sẵn hai  bộ xà dọc đủ mắc võng cho cả tiểu đội, hai bên hầm ngủ còn có cả hầm chữa A . Các anh lính cũ dẫn đường, phân chia chúng tôi vào các hầm và  thông báo tình hình “ Doanh trại “

Nghỉ ngơi chừng hơn một giờ thì có lệnh tập trung tại " Hội trường"
Hội trường cũng được đào sâu hơn 1 m nếu ngồi thì cũng ngập đầu . Chúng tôi ngồi vào những chiếc ghế “ Mới “ thiết kế  bằng  cành, thân cây rừng nhỏ.
Sau khi đã ổn định xong chỗ ngồi chúng tôi thấy mấy anh lính cũ đứng cả dậy, chúng tôi cũng đứng lên theo.

Bước vào hội trường có 5 anh lớn tuổi hơn trong số đó ba người vận bộ đồ kiểu “Bà ba “ hai người trong trang phục bộ đội chính quy những đã cũ. 


Tôi để ý thấy một người đi lại phía chúng tôi, ngồi ké ngay chỗ của Lựu. Nhìn kỹ nhận ra cái ông mà anh chàng Lựu đích danh nhờ mang ruột gạo.

Trước khi cuộc họp bắt đầu. Một trong hai người bận quân phục nét mặt tươi cười hỏi chúng tôi :
- Ai là người sáng nay nhờ thủ trưởng mang hộ gạo nhỉ ?
Mọi người nhìn nhau, tôi nhìn vào Lựu, hai tai anh chàng đỏ lựng.
Cả hội trường cười vang.
- Chưa biết thì nhờ cũng được. Biết rồi là không được nhờ nữa nhé, nhờ nữa là đánh đòn đấy. Cả hội ngường lại cười to hơn.

Sau khi giới thiệu và làm quen chúng tôi mới biết người mang hộ chàng Lựu của chúng tôi bao gạo lên dốc chính là  - Đại tá Nguyễn Chơn sư trưởng sư 2, còn người hỏi chuyện vui là chính ủy sư đoàn Thuần. Đơn vị đón chúng tôi là C21- Đại đội trinh sát trực thuộc F2

Vâng tôi bắt đầu vào nhập lính F2 là như vậy đấy

Đỗ Đặng Biên

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Nhớ mãi sư đoàn trưởng F2 (QK5)Trương Hồng Anh

Đã 24 năm kể từ khi Đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 (Quân khu 5) Trương Hồng Anh hy sinh, đồng đội vẫn nhớ đến anh với những ký ức không bao giờ quên...

Trương Hồng Anh sinh năm 1948 ở xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. 16 tuổi nhập ngũ vào Sư đoàn 2. Từng tham gia đánh trận Ba Gia, Vạn Tường, Đồng Dương, Quy Thạch, Nông Sơn, Trung Phước, đường 9 - Nam Lào, giải phóng Đà Nẵng. 22 tuổi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90, 29 tuổi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 và 35 tuổi là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Chưa đầy 20 năm trong quân ngũ, anh được phong 13 cấp, từ binh nhì đến đại tá, từ chiến sĩ trinh sát đến sư đoàn trưởng. Anh hai lần có mặt ở chiến trường Cam-pu-chia trên cương vị trung đoàn trưởng và sư đoàn trưởng.

Làm chỉ huy khi còn rất trẻ, lại có dáng thư sinh, trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ, trang phục chỉn chu, lại hòa đồng với chiến sĩ, nên quanh người sĩ quan họ Trương này có rất nhiều giai thoại. Đó là năm 1970, khi Tiểu đoàn 90 (Trung đoàn 1) đóng quân ở Quế Phong, Hội phụ nữ huyện Quế Sơn, Quảng Nam khi đến thăm đã bán tín bán nghi khi thấy anh Tiểu đoàn trưởng gương mặt còn non hơn chiến sĩ. Năm 1971, nghệ sĩ ngâm thơ Kim Cúc từ Hà Nội vào biểu diễn ở Mặt trận đường 9-Nam Lào, gặp Trương Hồng Anh ở lán trại dã chiến, tưởng là chiến sĩ liên lạc, nhờ ngay: ‘’Em ơi cho chị xin ly nước”. Sau biết người rót nước cho chị rất lễ phép đó là Tiểu đoàn trưởng, chị không khỏi ngỡ ngàng. Đoàn nghệ thuật của Trung ương về biểu diễn mừng thành phố Đà Nẵng giải phóng, đến thăm Trung đoàn Ba Gia, mọi người cứ nhầm Trương Hồng Anh là công vụ, vì không tin một chỉ huy Trung đoàn nổi tiếng lại trẻ như thế.

Khi nói về Trương Hồng Anh, cố Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu, nguyên Chính ủy Sư đoàn 2 nhận xét: “Đó là một cán bộ còn rất trẻ, thông minh, thực sự có tài chỉ huy, có cách nói năng rành rọt, có sức thuyết phục người khác. Anh nghiên cứu rất kỹ về địch, đánh giá đúng mức, luôn tìm cái yếu của địch để đánh, có khi thay đổi cả một phương án của đơn vị bằng một phương án mới hiệu quả hơn. Giao cho Trương Hồng Anh phụ trách một cánh quân nào đó, chúng tôi rất yên tâm, vì trong mọi tình huống anh có xử trí quyết đoán, táo bạo mà linh hoạt, đã đánh là phải thắng. Tài chỉ huy của Trương Hồng Anh thể hiện rõ rệt trên cương vị Sư đoàn trưởng chỉ huy diễn tập bài chiến thuật “Trung đoàn bộ binh hiệp đồng quân binh chủng, tiến hành tiến công quân địch lâm thời phòng ngự ở địa hình rừng núi”. Cuộc diễn tập đã thành công mỹ mãn, đơn vị đạt loại giỏi. Đồng chí Trung tướng cố vấn Liên Xô (trước đây) theo dõi cuộc diễn tập này đã khen ngợi: “Tôi có thể phát biểu với các đồng chí bằng hai chữ: tuyệt vời. Tôi không ngờ có một Sư đoàn trưởng trẻ lại thông minh đến vậy”.

Thật đáng tiếc, chỉ một năm sau diễn tập, người chỉ huy tài năng đầy triển vọng đã hy sinh. Đây là một tổn thất không chỉ của Quân khu 5 mà của cả quân đội ta.

Đại tá Lê Văn Cúc, nguyên Chính ủy Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) kể: “Tôi biết Trương Hồng Anh khi đang công tác ở Phòng Chính trị sư đoàn. Năm 1978, tôi là Chính ủy còn anh Anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, cùng sát cánh bên nhau ở chiến trường Cam-pu-chia suốt 2 năm. Nhớ trận đầu tiên, trung đoàn ra quân ở Ngã ba Săng-ke. Chiến sĩ ta thương vong nhiều, anh khóc rồi tìm mọi cách tổ chức phản công giành thắng lợi. Điều anh quan tâm đầu tiên là các trận địa pháo. Anh mạnh dạn bố trí khẩu đội ĐKZ nhô ra phía trước ở địa hình có lợi để dễ dàng phát hiện đánh địch và tiêu diệt địch ngay. Tôi nhớ nhất là trận đột phá toàn mặt trận trong đội hình của Quân đoàn 4. Anh bàn dời sở chỉ huy từ phía sau ra phía trước so với trận địa bố trí quân. Đây là phương án táo bạo có phần nguy hiểm, nhưng cái được lớn nhất là quan sát toàn bộ chiến trường, chỉ huy hiệp đồng binh chủng nhanh chóng. Như dự liệu, trận đột phá lần đó, Trung đoàn 1 đã giành thắng lợi giòn giã, là dấu ấn quan trọng để đơn vị được tuyên dương Anh hùng lần thứ 2. Trương Hồng Anh có trí nhớ rất kỳ lạ. Dựa trên bản đồ, anh có thể dẫn Trung đoàn hành quân trong đêm hàng chục cây số mà không bị lạc. Cách làm việc của anh khoa học, có sự chuẩn bị kỹ cho mỗi trận đánh từ con người, phương án, cơ sở chiến trường, đồng thời anh đòi hỏi chỉ huy cấp dưới cũng phải như thế.

Anh rất ít ngủ, đọc sách nhiều, nghiên cứu, ghi chép cẩn thận. Có khi nửa đêm bật dậy để viết vào sổ một ý nghĩ nào đó mới hình thành. Đọc, ghi chép, quan sát, phân tích, sự lao động nghiêm túc này cộng với sự từng trải chiến trường, ý chí quyết tâm cao là bí quyết để Trương Hồng Anh thành công trên cương vị chỉ huy. Trương Hồng Anh sống rất chân tình với đồng đội. Với cấp trên, anh khiêm tốn, lắng nghe, chấp hành nghiêm mệnh lệnh. Với cán bộ dưới quyền, bàn bạc dân chủ, không bao giờ hách dịch, nổi nóng. Với chiến sĩ, hết mực hòa đồng, thương yêu, lo từng bữa ăn, giấc ngủ, chỗ nghỉ ngơi tốt nhất dù là trong chiến tranh nên được mọi người yêu quý, tin tưởng. Khi anh bị thương nặng nằm ở Quân y viện 21 (Mặt trận 579), hàng trăm chiến sĩ đã xung phong truyền máu cho anh. Người lính quân y lâu nay phục vụ anh đã khóc tức tưởi, khi biết thủ trưởng của mình không qua khỏi.

- Chúng tôi có những kỷ niệm đẹp, ấm áp vừa là đồng chí vừa là anh em - Đại tá Nguyễn Đình Ngật xúc động kể - Khi tôi làm Sư đoàn phó về Chính trị thì Trương Hồng Anh làm Sư đoàn trưởng ở chiến trường Cam-pu-chia. Anh rất có bản lĩnh chỉ huy, trình độ tổ chức giỏi. Trong trận đánh vào căn cứ 547, ta và địch giằng co quyết liệt. Đây là căn cứ có 16 vị trí then chốt, với nhiều điểm tựa, cụm điểm tựa, trận địa hỏa lực liên hoàn, lực lượng địch bố trí dày đặc. Chính vì vậy ta đã 4 lần tổ chức tiến công nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn. Quan sát trực tiếp những thủ đoạn của địch, Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh ra lệnh cho Trung đoàn pháo binh 368 cơ động 2 khẩu pháo nòng dài 85mm và 4 khẩu pháo phòng không 37mm lên phía đài quan sát thực hiện “bắn xăm” vào các hốc đá, tiêu diệt các hỏa điểm địch. Trận địa pháo 105mm cũng được lệnh phối hợp với pháo của xe tăng bắn cấp tập ghìm đầu địch xuống, tạo điều kiện cho pháo 37mm cơ động. Nhờ cách đánh này, các hỏa điểm địch đã nhanh chóng bị tiêu diệt, căn cứ 547 của địch bị thất thủ. Tuy nhiên, Sư đoàn đã chịu một tổn thất lớn. Ngày 27-3-1984, trên đường đi kiểm tra chiến trường trở về, xe bị mìn của bọn Pôn Pốt cài lại, người chỉ huy Trương Hồng Anh bị thương nặng. Cuộc giành giật sự sống cho anh đã diễn ra khẩn trương, trên huy động cả máy bay trực thăng vận chuyển cấp cứu nhưng anh đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 2-4-1984. Thương nhớ anh, mấy đêm liền tôi thức trắng. Chiếc áo anh tặng vẫn còn đây mà người đồng chí thân thiết đã đi xa.

Nhớ về anh trai mình, Trung tá Trương Hồng Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 143 (Sư đoàn 315-Quân khu 5) rớm lệ: Gia đình tôi có 5 anh em trong đó có 4 người đi bộ đội. Trương Hồng Anh là anh cả. Nhà nghèo vẫn chắt chiu cho anh đi học ở trường huyện đến lớp Nhất. Anh học rất giỏi, sau này về trường sĩ quan Lục quân 1 và Học viện Quốc phòng cũng thế. Anh thuận cả hai tay, đặc biệt viết bằng tay trái, rất nhanh. Năm 1964, anh tôi bắt liên lạc với đằng mình và bí mật “nhảy núi”. Gia đình chỉ biết anh đi theo cách mạng khi ông bác mất đôi dép cao su và tấm ván dày. Những thứ này anh dùng để vượt hàng rào ấp chiến lược. Sau này anh kể rằng, suốt mấy ngày chờ người dẫn đi, anh phải nằm trong hang lạnh, đói nhưng nhất quyết không quay về. Anh đánh giặc tung hoành ở đâu chứ về nhà thì hiền khô. Tôi là út sinh ra chưa được bao lâu thì cha mẹ bị giặc Mỹ giết hại nên anh thương lắm. Có lần anh đóng quân ở Quảng Nam, tôi ra thăm. Hai anh em về lại Quảng Ngãi thì trời đã tối mịt, đường đi còn xa, anh bắt tôi trèo lên vai cho anh cõng, mặc dầu lúc này tôi đã 14 tuổi. Tình cảm âu yếm ấy tôi cứ nhớ hoài. Bận rộn công việc của người chỉ huy mà anh rất siêng viết thư, cả khi chiến đấu ở chiến trường Cam-pu-chia. Thư nào cũng lo lắng nhắc nhở tôi từng tí một như người chị gái. Sau này anh hy sinh, những lá thư của anh luôn là nguồn động viên vô giá với tôi trong cuộc sống. Anh là người chẳng màng danh lợi, vật chất. Ngay cả hạnh phúc riêng tư của anh cũng là hạnh phúc ngắn ngủi, giản dị của người lính thời chiến. Cưới vợ khi đang học ở Học viện Quốc phòng (hai người đã từng biết nhau khi anh ra Bắc học trường sĩ quan Lục quân trước đây), anh về ở rể chưa bao lâu thì vào Nam, liên miên theo các chiến dịch, một hoặc hai năm mới có dịp ra thăm tổ ấm của mình. Ý định hợp lý hóa gia đình lần hồi gác lại. Sau này, khi anh mất, Bộ Quốc phòng đã phân cho vợ con anh căn hộ ở khu tập thể Nam Đồng, thực hiện mơ ước của anh là có một mái ấm riêng cho vợ và cô con gái nhỏ.


Nguồn: Ở ĐÂY

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

TỰ HÀO LÀ LÍNH CỦA TƯỚNG NGUYỄN CHƠN


Là lính Quân khu 5 nhưng tôi chưa được gặp người chỉ huy đã một thời vang bóng ở chiến trường khu 5. Trong nhiều thước phim về chiến tranh Việt Nam đều thấy xuất hiện gương mặt Nguyễn Chơn.
Cuối năm 1983 khi chuẩn bị cho chiến dịch mùa khô 1983 -1984 tôi mới “thấy” Cụ, khi chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường từ Phnom Tabeng đến Cầu Cháy.
Tôi được nghe những câu chuyện kể về Cụ lần đầu tiên khi còn ở Biên giới Tây nam.
Trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công tháng 12/1978, đơn vị tôi cùng với trung đoàn 31 sư đoàn 309 phối hợp đánh bứt các căn cứ của Pốt ở phía Nam đường 19, chuẩn bị hành lang an toàn cho chiến dịch và các trận địa pháo của E572. (Trung đoàn trưởng 31 lúc này là Nguyễn Văn Hồng). Trong căn hầm ngập đầy nước ở Bãi Sắn khu Xa – Xb, tôi được nghe anh Tự lúc đó là Tiểu đoàn trưởng D9 E31 kể về Cụ. Anh Tự trong KCCM là lính của E31 F711 đã từng sát cánh cùng Cụ Chơn trong những trận đánh ở mặt trận Quảng Đà, khi đánh phối thuộc cùng F2 cũng như sau này Cụ về làm sư trưởng 711.
Không biết những chuyện anh kể lại chính xác thế nào, nhưng ít nhiều cũng nói lên nhân cách, bản lĩnh của một người chỉ huy đối với cấp dưới thuộc quyền.

Trận đánh anh Tự kể là trận đánh Quế Sơn.
Công tác chuẩn bị cho trận đánh đã hoàn chỉnh và các đơn vị đã xuất phát. Trong khi đang hành quân thì có điện của Bộ tổng tham  mưu là không nên đánh Quế Sơn vì không chắc thắng. Tướng Chu Huy Mân khi đó là tiền phương Quân khu đắn đo suy nghĩ và bàn với Cụ Chơn. Nguyễn Chơn đã trình bày với tiền phương Quân khu những ý kiến của mình và hạ quyết tâm sẽ đánh dứt điểm Quế Sơn. Rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan” và không còn cách nào khác, các Cụ nhà mình giấu kín điện của trên và vẫn cho đánh Quế Sơn. Trận này ta thắng lợi giòn giã.
Khi Tướng Mân ra Hà Nội họp thì Cục trưởng Cục tác chiến BTTM đến xin lỗi về chuyện này. Nguyễn Chơn là người chỉ huy dám đưa ra những quyết định tại chiến trường và hiển nhiên dám chịu mọi trách nhiệm.

Trận Nông Sơn năm 1974.
Trận này F2 có nhiệm vụ đánh tiêu diệt một tiểu đoàn địch (anh Tự là C phó và bị thương ở trận này). Gần đến giờ nổ súng thì địch có sự thay đổi quân. Như vậy lúc này căn cứ của địch có 2 tiểu đoàn. Cấp trên không chấp thuận cho nổ súng vì tình hình có thay đổi. Cụ lại phải thuyết phục cấp trên và đưa ra những cơ sở để quyết định nổ súng và hạ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nói chuyện với anh em đi trinh sát căn cứ địch Cụ bảo “Đến giờ nổ súng, nếu địch chưa thay quân kịp thì cũng đánh luôn, mai kia khỏi phải đi tìm nó mà đánh”.
Cụ kéo 2 khẩu pháo 75 hay 85 gì đó đặt cách căn cứ địch non cây số và khi nổ súng ta bắn thẳng. Trong đời lính của mình anh Tự chứng kiến cảnh pháo bắn thẳng và uy lực của nó.

Trong một tập thể, bản lĩnh và nhân cách của người chỉ huy có những ảnh hưởng rất lớn. Trong KCCM Khu 5 chỉ có 2 sư đoàn chủ lực là F2 và F3 Sao Vàng. Bản lĩnh trận mạc đã tạo cho F2 và sư đoàn Sao Vàng là cái nôi cung cấp những cán bộ có dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Trong nhiều trận đánh ở Biên giới Tây Nam cũng như sau này ở MT579, nhiều chỉ huy xuất thân từ hai đơn vị này đã vận dụng cách đánh truyền thống của mình thời chống Mỹ. Nhiều đơn vị từ F2 tách ra đã đóng vai trò trụ cột trong những đơn vị mới thành lập trong chiến tranh BGTN mà điển hình là E31 F309.

Những năm làm Nghĩa vụ Quốc tế ở chiến trường K. Sư đoàn 2 luôn có mặt ở những thời điểm và những trận đánh quyết định của MT579. Dấu chân của những người lính trung đoàn Ba Gia, F2 lặn lội khắp các vùng.
Tôi không phải là người lính F2 trong những năm tháng đó, nhưng tôi cũng cảm nhận được rằng: Nhiều thời điểm MT579 không phải thiếu quân số cấp trung đoàn, nhưng điều chiến trường cần là sự từng trải đã được trui rèn đến mức thiện chiến.



Nguồn : Ở ĐÂY

TRUNG ĐOÀN BA GIA


Trong cuộc đời làm lính, chúng tôi luôn nghĩ về 2 người Sư đoàn trưởng tài hoa (mà 2 vị sư trưởng này có một sự gắn bó keo sơn cho đến ngày 27-3-1984), đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng cán bộ chiến sỹ của sư đoàn qua các tài liệu, lời kể của các thế hệ đàn anh đi trước, một trong 2 người ấy là sư trưởng Nguyễn Chơn. Chúng tôi xin mạn phép được kể về ông, về sư đoàn mang tên ông như những người đồng đội giữa 2 thế hệ, như những đứa cháu kể về bậc cha chú của mình.

Chúng tôi, những người lính sư đoàn bộ binh 2 quân khu 5 sinh ra trong lúc đất nước đang bị chia cắt, miền Bắc đang khắc phục hậu quả của chiến tranh để lại và xây dựng CNXH, ở miền Nam đang bị chế độ Ngô Đình Diêm đàn áp dã man bằng luật 10/59.
Là những người cuối cùng lên tàu Ba lan tập kết ra Bắc theo hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Nguyễn Chơn ra Bắc, ông theo học khóa 10 Trường Sĩ quan Lục quân do Lê Trọng Tấn làm hiệu trưởng. Ra trường, Nguyễn Chơn được điều về Sư đoàn 305, một đơn vị gồm những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra bắc.
Ngày 17 tháng 7 năm 1956, Ngô Đình Diệm tuyên bố không có tổng tuyển cử vào ngày 20 tháng 7 năm 1956!

Đầu năm 1959, Nguyễn Chơn chấp hành mệnh lệnh của cấp trên để trở lại miền Nam với lời dặn văng vẳng bên tai trước lúc lên tàu tập kết của đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 ở Tam Quan: "Nếu kẻ thù không để cho chúng ta trở về dưới ngọn cờ hòa bình, thì chúng ta sẽ trở về bằng ngọn cờ Quyết chiến Quyết thắng".


Trở về Nam, ông cùng đồng đội và các cán bộ chủ chốt xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang của Quảng nam. Sau khi trung đoàn 1 được tách ra trực thuộc khu 5 thì ông được điều về làm cán bộ tác chiến của trung đoàn 1 (D40 + D60 + D90), rồi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 90.



Để đập tan ý đồ của đế quốc Mỹ và tay sai, trung đoàn 1 cơ động vào Quảng Ngãi, tại Ba Gia (xã Tịnh Bắc huyện Sơn Tịnh - cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 20km về phía Tây Bắc) Đêm 28 rạng ngày 29/5/1965 đến ngày 31/05/1965 đã tiêu diệt 4 tiểu đoàn tinh nhuệ của nguỵ, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn miền Tây Sơn Tịnh và góp phần đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế Quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Tiểu đoàn trưởng D90 - QK5 Nguyễn Chơn đã đánh trận Ba Gia nổi tiếng này và từ đó Trung đoàn 1 được mang tên Trung đoàn Ba Gia.

Nguồn :Ở ĐAY