LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Thượng tướng Nguyễn Chơn với CBCS sư 2




Thượng tướng Nguyễn Chơn và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu 5.



Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 2 với Thượng tướng Nguyễn Chơn.


Nguồn:BÁO QĐND

HÁT MÃI KHÚC QUÂN HÀNH

NGÀY ĐẦU TIÊN LÀM LÍNH SƯ 2

Khoảng trung tuần tháng 2 năm 1972 đại đội tôi hành quân qua binh trạm 12 thuộc đoàn 559. Chúng tôi mỗi người một ba lô trên lưng với tất cả trang bị được cung cấp từ miền bắc, trước ngực một khẩu AK47, thắt lưng một băng đạn và 2 trái mỏ vịt, trên cổ vắt vẻo một ruột ngựa khoảng 6 – 7 kg gạo.

Đường đi thì hết xuống dốc lại lên dốc, mà cái dốc gần cuối thuộc binh trạm 12 sao dài đến thế, người không mang vác gì cũng còn phải nghỉ chân huống hồ mang nặng.
Đội hình đại đội giãn cách mỗi lúc một xa, nhóm tôi có 3 anh em cùng huyện luôn chờ nhau cùng leo dốc.
Đi trước tôi là cậu Lựu ( Đỗ Văn Lựu – Quê hương chính gốc của chiếc gậy trường sơn ) .

Mệt mỏi chúng tôi rệu rã  đi như đếm từng bước.
Tôi thấy có 2 người trang phục bà ba đi vượt lên. Người đi trước không mang ba lô mà thay vào đó là  một chiếc gùi, còn thì cũng y chang súng và ruột gạo vắt cổ. Người thứ hai nhỏ con hơn nhưng gần như không mang vác gì, tòng teng một chiếc gùi nhỏ trên lưng, tay cầm cây gậy chống.

Hai người đi có thể nói là khá nhanh, khi vượt qua cả 3 chúng tôi bỗng anh Lựu nói to :
- Ông gì ơi ! ông có lên dốc không mang giùm tôi cái ruột gạo với, Lựu nói to lẫn tiến thở .
Người đi sau dừng lại, chờ khi anh Lựu đi đến gần rồi nói :
- Bạn mang nặng lắm phải không ? Tôi cũng lên dốc đây, đưa tôi mang đỡ cho và tiện tay nhắc luôn cái ruột gạo của Lựu vắt lên vai mình. Chưa hết anh ta lại có nhã ý mang hộ khẩu súng lủng lẳng trước bụng nữa.
Anh chàng Lựu rối rít cảm ơn và nói :
- Ông mang hộ tôi cái ruột gạo là tốt rồi, súng thì không nhờ người khác đươc. Như thể sả cơn mệt Lưu văng ngay cái văn phong của lính “ Đ.. mẹ cái dốc đ.. gì mà dài thế “
- Còn một đoạn nữa thôi là tới đỉnh rồi,  mà cũng sắp tới đơn vị rồi. Người mang hộ Lưu ruột gạo vừa đi vừa nói vọng lại .

Ba anh em chúng tôi đỡ nhau và cố gắng để không bị rớt phía sau. Khi chúng tôi leo tới đỉnh thấy cả hai người ngồi nghỉ. Nhận lại bao gạo, anh chàng Lựu nhe cả bộ hàm răng cười cám ơn lấy cám ơn để.

Khác với mọi hôm, thường khoảng  hơn 16 giờ mới tới trạm nhưng hôm nay mới 14 giờ chúng tôi đã đến nơi.
Đây không phải là trạm giao liên mà là hậu cứ. Ai đó đã làm sẵn cho chúng tôi những chiếc phòng ngủ chìm dưới mặt đất, có sẵn hai  bộ xà dọc đủ mắc võng cho cả tiểu đội, hai bên hầm ngủ còn có cả hầm chữa A . Các anh lính cũ dẫn đường, phân chia chúng tôi vào các hầm và  thông báo tình hình “ Doanh trại “

Nghỉ ngơi chừng hơn một giờ thì có lệnh tập trung tại " Hội trường"
Hội trường cũng được đào sâu hơn 1 m nếu ngồi thì cũng ngập đầu . Chúng tôi ngồi vào những chiếc ghế “ Mới “ thiết kế  bằng  cành, thân cây rừng nhỏ.
Sau khi đã ổn định xong chỗ ngồi chúng tôi thấy mấy anh lính cũ đứng cả dậy, chúng tôi cũng đứng lên theo.

Bước vào hội trường có 5 anh lớn tuổi hơn trong số đó ba người vận bộ đồ kiểu “Bà ba “ hai người trong trang phục bộ đội chính quy những đã cũ. 


Tôi để ý thấy một người đi lại phía chúng tôi, ngồi ké ngay chỗ của Lựu. Nhìn kỹ nhận ra cái ông mà anh chàng Lựu đích danh nhờ mang ruột gạo.

Trước khi cuộc họp bắt đầu. Một trong hai người bận quân phục nét mặt tươi cười hỏi chúng tôi :
- Ai là người sáng nay nhờ thủ trưởng mang hộ gạo nhỉ ?
Mọi người nhìn nhau, tôi nhìn vào Lựu, hai tai anh chàng đỏ lựng.
Cả hội trường cười vang.
- Chưa biết thì nhờ cũng được. Biết rồi là không được nhờ nữa nhé, nhờ nữa là đánh đòn đấy. Cả hội ngường lại cười to hơn.

Sau khi giới thiệu và làm quen chúng tôi mới biết người mang hộ chàng Lựu của chúng tôi bao gạo lên dốc chính là  - Đại tá Nguyễn Chơn sư trưởng sư 2, còn người hỏi chuyện vui là chính ủy sư đoàn Thuần. Đơn vị đón chúng tôi là C21- Đại đội trinh sát trực thuộc F2

Vâng tôi bắt đầu vào nhập lính F2 là như vậy đấy

Đỗ Đặng Biên

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Nhớ mãi sư đoàn trưởng F2 (QK5)Trương Hồng Anh

Đã 24 năm kể từ khi Đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 (Quân khu 5) Trương Hồng Anh hy sinh, đồng đội vẫn nhớ đến anh với những ký ức không bao giờ quên...

Trương Hồng Anh sinh năm 1948 ở xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. 16 tuổi nhập ngũ vào Sư đoàn 2. Từng tham gia đánh trận Ba Gia, Vạn Tường, Đồng Dương, Quy Thạch, Nông Sơn, Trung Phước, đường 9 - Nam Lào, giải phóng Đà Nẵng. 22 tuổi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90, 29 tuổi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 và 35 tuổi là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Chưa đầy 20 năm trong quân ngũ, anh được phong 13 cấp, từ binh nhì đến đại tá, từ chiến sĩ trinh sát đến sư đoàn trưởng. Anh hai lần có mặt ở chiến trường Cam-pu-chia trên cương vị trung đoàn trưởng và sư đoàn trưởng.

Làm chỉ huy khi còn rất trẻ, lại có dáng thư sinh, trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ, trang phục chỉn chu, lại hòa đồng với chiến sĩ, nên quanh người sĩ quan họ Trương này có rất nhiều giai thoại. Đó là năm 1970, khi Tiểu đoàn 90 (Trung đoàn 1) đóng quân ở Quế Phong, Hội phụ nữ huyện Quế Sơn, Quảng Nam khi đến thăm đã bán tín bán nghi khi thấy anh Tiểu đoàn trưởng gương mặt còn non hơn chiến sĩ. Năm 1971, nghệ sĩ ngâm thơ Kim Cúc từ Hà Nội vào biểu diễn ở Mặt trận đường 9-Nam Lào, gặp Trương Hồng Anh ở lán trại dã chiến, tưởng là chiến sĩ liên lạc, nhờ ngay: ‘’Em ơi cho chị xin ly nước”. Sau biết người rót nước cho chị rất lễ phép đó là Tiểu đoàn trưởng, chị không khỏi ngỡ ngàng. Đoàn nghệ thuật của Trung ương về biểu diễn mừng thành phố Đà Nẵng giải phóng, đến thăm Trung đoàn Ba Gia, mọi người cứ nhầm Trương Hồng Anh là công vụ, vì không tin một chỉ huy Trung đoàn nổi tiếng lại trẻ như thế.

Khi nói về Trương Hồng Anh, cố Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu, nguyên Chính ủy Sư đoàn 2 nhận xét: “Đó là một cán bộ còn rất trẻ, thông minh, thực sự có tài chỉ huy, có cách nói năng rành rọt, có sức thuyết phục người khác. Anh nghiên cứu rất kỹ về địch, đánh giá đúng mức, luôn tìm cái yếu của địch để đánh, có khi thay đổi cả một phương án của đơn vị bằng một phương án mới hiệu quả hơn. Giao cho Trương Hồng Anh phụ trách một cánh quân nào đó, chúng tôi rất yên tâm, vì trong mọi tình huống anh có xử trí quyết đoán, táo bạo mà linh hoạt, đã đánh là phải thắng. Tài chỉ huy của Trương Hồng Anh thể hiện rõ rệt trên cương vị Sư đoàn trưởng chỉ huy diễn tập bài chiến thuật “Trung đoàn bộ binh hiệp đồng quân binh chủng, tiến hành tiến công quân địch lâm thời phòng ngự ở địa hình rừng núi”. Cuộc diễn tập đã thành công mỹ mãn, đơn vị đạt loại giỏi. Đồng chí Trung tướng cố vấn Liên Xô (trước đây) theo dõi cuộc diễn tập này đã khen ngợi: “Tôi có thể phát biểu với các đồng chí bằng hai chữ: tuyệt vời. Tôi không ngờ có một Sư đoàn trưởng trẻ lại thông minh đến vậy”.

Thật đáng tiếc, chỉ một năm sau diễn tập, người chỉ huy tài năng đầy triển vọng đã hy sinh. Đây là một tổn thất không chỉ của Quân khu 5 mà của cả quân đội ta.

Đại tá Lê Văn Cúc, nguyên Chính ủy Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) kể: “Tôi biết Trương Hồng Anh khi đang công tác ở Phòng Chính trị sư đoàn. Năm 1978, tôi là Chính ủy còn anh Anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, cùng sát cánh bên nhau ở chiến trường Cam-pu-chia suốt 2 năm. Nhớ trận đầu tiên, trung đoàn ra quân ở Ngã ba Săng-ke. Chiến sĩ ta thương vong nhiều, anh khóc rồi tìm mọi cách tổ chức phản công giành thắng lợi. Điều anh quan tâm đầu tiên là các trận địa pháo. Anh mạnh dạn bố trí khẩu đội ĐKZ nhô ra phía trước ở địa hình có lợi để dễ dàng phát hiện đánh địch và tiêu diệt địch ngay. Tôi nhớ nhất là trận đột phá toàn mặt trận trong đội hình của Quân đoàn 4. Anh bàn dời sở chỉ huy từ phía sau ra phía trước so với trận địa bố trí quân. Đây là phương án táo bạo có phần nguy hiểm, nhưng cái được lớn nhất là quan sát toàn bộ chiến trường, chỉ huy hiệp đồng binh chủng nhanh chóng. Như dự liệu, trận đột phá lần đó, Trung đoàn 1 đã giành thắng lợi giòn giã, là dấu ấn quan trọng để đơn vị được tuyên dương Anh hùng lần thứ 2. Trương Hồng Anh có trí nhớ rất kỳ lạ. Dựa trên bản đồ, anh có thể dẫn Trung đoàn hành quân trong đêm hàng chục cây số mà không bị lạc. Cách làm việc của anh khoa học, có sự chuẩn bị kỹ cho mỗi trận đánh từ con người, phương án, cơ sở chiến trường, đồng thời anh đòi hỏi chỉ huy cấp dưới cũng phải như thế.

Anh rất ít ngủ, đọc sách nhiều, nghiên cứu, ghi chép cẩn thận. Có khi nửa đêm bật dậy để viết vào sổ một ý nghĩ nào đó mới hình thành. Đọc, ghi chép, quan sát, phân tích, sự lao động nghiêm túc này cộng với sự từng trải chiến trường, ý chí quyết tâm cao là bí quyết để Trương Hồng Anh thành công trên cương vị chỉ huy. Trương Hồng Anh sống rất chân tình với đồng đội. Với cấp trên, anh khiêm tốn, lắng nghe, chấp hành nghiêm mệnh lệnh. Với cán bộ dưới quyền, bàn bạc dân chủ, không bao giờ hách dịch, nổi nóng. Với chiến sĩ, hết mực hòa đồng, thương yêu, lo từng bữa ăn, giấc ngủ, chỗ nghỉ ngơi tốt nhất dù là trong chiến tranh nên được mọi người yêu quý, tin tưởng. Khi anh bị thương nặng nằm ở Quân y viện 21 (Mặt trận 579), hàng trăm chiến sĩ đã xung phong truyền máu cho anh. Người lính quân y lâu nay phục vụ anh đã khóc tức tưởi, khi biết thủ trưởng của mình không qua khỏi.

- Chúng tôi có những kỷ niệm đẹp, ấm áp vừa là đồng chí vừa là anh em - Đại tá Nguyễn Đình Ngật xúc động kể - Khi tôi làm Sư đoàn phó về Chính trị thì Trương Hồng Anh làm Sư đoàn trưởng ở chiến trường Cam-pu-chia. Anh rất có bản lĩnh chỉ huy, trình độ tổ chức giỏi. Trong trận đánh vào căn cứ 547, ta và địch giằng co quyết liệt. Đây là căn cứ có 16 vị trí then chốt, với nhiều điểm tựa, cụm điểm tựa, trận địa hỏa lực liên hoàn, lực lượng địch bố trí dày đặc. Chính vì vậy ta đã 4 lần tổ chức tiến công nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn. Quan sát trực tiếp những thủ đoạn của địch, Sư đoàn trưởng Trương Hồng Anh ra lệnh cho Trung đoàn pháo binh 368 cơ động 2 khẩu pháo nòng dài 85mm và 4 khẩu pháo phòng không 37mm lên phía đài quan sát thực hiện “bắn xăm” vào các hốc đá, tiêu diệt các hỏa điểm địch. Trận địa pháo 105mm cũng được lệnh phối hợp với pháo của xe tăng bắn cấp tập ghìm đầu địch xuống, tạo điều kiện cho pháo 37mm cơ động. Nhờ cách đánh này, các hỏa điểm địch đã nhanh chóng bị tiêu diệt, căn cứ 547 của địch bị thất thủ. Tuy nhiên, Sư đoàn đã chịu một tổn thất lớn. Ngày 27-3-1984, trên đường đi kiểm tra chiến trường trở về, xe bị mìn của bọn Pôn Pốt cài lại, người chỉ huy Trương Hồng Anh bị thương nặng. Cuộc giành giật sự sống cho anh đã diễn ra khẩn trương, trên huy động cả máy bay trực thăng vận chuyển cấp cứu nhưng anh đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 2-4-1984. Thương nhớ anh, mấy đêm liền tôi thức trắng. Chiếc áo anh tặng vẫn còn đây mà người đồng chí thân thiết đã đi xa.

Nhớ về anh trai mình, Trung tá Trương Hồng Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 143 (Sư đoàn 315-Quân khu 5) rớm lệ: Gia đình tôi có 5 anh em trong đó có 4 người đi bộ đội. Trương Hồng Anh là anh cả. Nhà nghèo vẫn chắt chiu cho anh đi học ở trường huyện đến lớp Nhất. Anh học rất giỏi, sau này về trường sĩ quan Lục quân 1 và Học viện Quốc phòng cũng thế. Anh thuận cả hai tay, đặc biệt viết bằng tay trái, rất nhanh. Năm 1964, anh tôi bắt liên lạc với đằng mình và bí mật “nhảy núi”. Gia đình chỉ biết anh đi theo cách mạng khi ông bác mất đôi dép cao su và tấm ván dày. Những thứ này anh dùng để vượt hàng rào ấp chiến lược. Sau này anh kể rằng, suốt mấy ngày chờ người dẫn đi, anh phải nằm trong hang lạnh, đói nhưng nhất quyết không quay về. Anh đánh giặc tung hoành ở đâu chứ về nhà thì hiền khô. Tôi là út sinh ra chưa được bao lâu thì cha mẹ bị giặc Mỹ giết hại nên anh thương lắm. Có lần anh đóng quân ở Quảng Nam, tôi ra thăm. Hai anh em về lại Quảng Ngãi thì trời đã tối mịt, đường đi còn xa, anh bắt tôi trèo lên vai cho anh cõng, mặc dầu lúc này tôi đã 14 tuổi. Tình cảm âu yếm ấy tôi cứ nhớ hoài. Bận rộn công việc của người chỉ huy mà anh rất siêng viết thư, cả khi chiến đấu ở chiến trường Cam-pu-chia. Thư nào cũng lo lắng nhắc nhở tôi từng tí một như người chị gái. Sau này anh hy sinh, những lá thư của anh luôn là nguồn động viên vô giá với tôi trong cuộc sống. Anh là người chẳng màng danh lợi, vật chất. Ngay cả hạnh phúc riêng tư của anh cũng là hạnh phúc ngắn ngủi, giản dị của người lính thời chiến. Cưới vợ khi đang học ở Học viện Quốc phòng (hai người đã từng biết nhau khi anh ra Bắc học trường sĩ quan Lục quân trước đây), anh về ở rể chưa bao lâu thì vào Nam, liên miên theo các chiến dịch, một hoặc hai năm mới có dịp ra thăm tổ ấm của mình. Ý định hợp lý hóa gia đình lần hồi gác lại. Sau này, khi anh mất, Bộ Quốc phòng đã phân cho vợ con anh căn hộ ở khu tập thể Nam Đồng, thực hiện mơ ước của anh là có một mái ấm riêng cho vợ và cô con gái nhỏ.


Nguồn: Ở ĐÂY

ĐÊM MÙA MƯA ĐẦU TIÊN Ở CHIẾN TRƯỜNG

 

Hầm là nhà
Nhà cũng là hầm

Nước tong tong tấu nhạc
Vách núi mù hơi sương, rả rích…

Chúng tôi thu mình trong mưa…


Đêm đặc như hắc ín

Dấu vào trong nghìn triệu sắc hình

Rừng chợt sáng trong từng tia chớp

Cho những bàn chân ém sát tiền duyên…
Đêm lặng imNhững âm thanh xầm xập trong mưa
Hun hút bom rơi tọa độ

Hun hút pháo tầm xa gầm rú
Căn hầm như võng, đung đưa…Mưa.Mưa vẫn rơi !
Đồng đội tựa vào nhau
Hơi truyền hơi, căn hầm nóng ấm
Ngủ đi

Tranh thủ ngủ đi bạn ơi,

Lát nữa thôi, chúng mình lại xuất kích…
Hầm là nhà
Nhà cũng là hầm

Chúng tôi chẳng thể nào quên được

Đêm mùa mưa đầu tiên
Ở chiến trường !


TG; Kiều Anh Hương

THÁNG BẢY

 

Tháng bảy bất chợt nắng, bất chợt mưa…
Có cái nắng oi nồng của mùa hạ
Có cái lạnh lúc nửa đêm rất lạ
Thu ngập ngừng gõ cửa hồn ta…

Tháng bảy có ngày tôi sinh ra
Vũ trụ ùa vào hồn cốt
Trái tim cùng đất trời giao diện
Nên buồn vui… bất chợt, lẽ rất thường…


Tháng bảy đi qua bao chớp bể mưa nguồn
Vận hết vào đời ta, một thời trai trẻ
Hạnh phúc cũng chợt đến rồi đi như thế
Thương đôi chim trên gối cưới ngậm ngùi…

Tháng bảy ơi, Trường Sơn nắng bạc đầu
Em nằm lại nơi đâu, mà sao không lên tiếng
Để anh mãi ngược rừng, nghe chim kêu, vượn hú
Thăm thẳm buồn, thăm thẳm…
Tuổi hai mươi !

Thôi, hãy để anh thắp thêm một nén hương thơm
Giữa điệp trùng những phần mộ chưa có tên, có tuổi
Nếu linh ứng đêm nay về báo mộng
Để anh được gặp em, ta về lại ngày xưa…

Ngày 13.7.2011
Kiều Anh Hương

BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC

(Tưởng nhớ XQ thân yêu) I
Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.   

Trời chiến trưòng không một phút bình yên
Súng nổ gấp. Anh lên đường đuổi giặc
Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời
Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy
Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.
Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc
Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
Anh nổ súng.

II
Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.

Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
Bao giốc cao em cần cù đã vượt
Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh
Em nói tới tương lai tươi thắm ngọt lành
Em nói tới những điều em định viết
Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
Con sông Giàng gầm réo miên man
Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan
Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc...

Nhớ chăng em, ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân
Em lên đường phơi phới bước chân
B.52 bom nghìn tấn dội
Kìa dáng em băng rường bước vội
Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi.
Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi
Nắng long lanh trong mắt người bám biển
Giặc mới lui càn khi em vừa đến
Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
Đã lại mở những chiến hào gai góc
Những em bé, dưới mưa bom, vẫn đi làm đi học
Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc...

Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
Em mải mê, đi giữa bao người
Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hòa, Xuyên Phú...
Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm
Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư
Có tiếng hò như thực như hư
Em đã đến, tắm mình trong sóng nước
Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thủa trước
Em mở mắt nhìn kinh ngạc những làng thôn
Và kêu lên khi đượ thấy cội nguồn
Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ.
Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ
Đã cùng họ xẻ chia
Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa
Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể hết
Của một thời nô lệ đau thương
Em lớn lên bên họ can trường
Giữa bom gào đạn réo
Em đã thấy những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
Những con người như ánh sáng lung linh
Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình
Để làm nên buổi mai đầy nắng
Em bối rối, em sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.

Và em gọi đó là hạnh phúc...

III
Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu
Em trong anh là mùa xuân náo động
Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu.


8 tháng 3 - 1969
6 tháng 9 - 1969

Tác giả :Bùi Minh Quốc