LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

CHỈ GIÙM CHO CHÁU

Kính gửi các Bác, các Chú, Các Anh cán bộ chiến sĩ sư 2
Cháu đăng tin ở  trang Weblog này hy vọng ác Bác, các Chú, Các Anh biết thông tin về người nhà cháu chỉ bảo giùm để gia đình cháu sớm đưa được người thân của cháu về quê hương.


Liệt sỹ: Trương Thành Tám
Sinh năm : 1952
Quê quán: xã Quất Thượng, thành phố Việt Trì, tỉnh Vĩnh Phúc cũ ( nay là tỉnh Phú Thọ )
Nhập ngũ: 05/1971
Đơn vị khi hy sinh: D12,F711,QK 5
Cấp bậc: Chiến sỹ
Ngày hy sinh: 12/11/1972
Nơi an táng: huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
Họ và tên cha: Trương Thành Uẩn
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Nghiên

Thông tin thêm: - Liệt sỹ là người viết chữ rất đẹp, trong thư viết về nói là làm ghi chép trong đơn vị.
- Có thông tin rằng chết do mảnh bom cắm vào sau lưng được đua về trạm quân y bên kia dốc Cọp nhưng do vết thương quá nặng nên đã chết và được chôn gần trạm quân y đó.

Cháu rất mong tin của các Bác, các Chú, Các Anh
Cháu xin được cám ơn trước.
 Cháu  Trương Thị Hà:
ĐT : 0913351279. hoặc 0962034028. 

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Kính gửi: CÁC BÁC, CÁC CHÚ CỰU CHIẾN BINH SƯ ĐOÀN 2








Cháu tên là: Lê Quang Nam là cháu ruột liệt sĩ Lê Quang Lâm - Sinh năm 1952, Quê Xã Thiệu Long, Huyện Thiệu Hóa, Tỉnh Thanh Hóa. Nhập ngũ tháng 8 năm 1970. Chức vụ Tiểu đội phó, đại đội 17-KN Theo giấy báo tử của BCHQS Tỉnh Thanh Hóa  (do trung tá Hoàng Minh Côn ký ngày 01/7/1974. Trong giấy báo tử ghi là: Hy Sinh ngày 26/9/1972 tại mặt trận phía Nam, thi hài được chôn cất tại nghĩa trang mặt trận.
Qua một người bạn chiến đấu về nghỉ phép có qua nhà ông bà cháu kể lại là chú cháu bị hy sinh trong trường hợp bị sập hầm và được đồng đội chôn cất ( do chú bị ốm không trực tiếp ra chiến đấu ngoài trận địa mà ở lại căn cứ nấu cơm để đưa ra trận địa) – Đây cũng chỉ là thông tin mà chú được nghe kể lại.
Qua bao nhiêu năm gia đình cháu đã tìm kiếm thông tin và phần mộ liệt sĩ Lâm và đã gửi thư liên hệ với rất nhiều BCHQS và Sở LĐTBXH các tỉnh, cuối cùng đến năm 2003 gia đình cháu cũng tìm được thông tin của chú cháu qua Cục chính sách Quân khu 5- Đà Nẵng và biết được phiên hiệu đơn vị là C17-E52-F2, tuy nhiên cũng không biết địa bàn hy sinh ở đâu.
Trong suốt quá trình đó, gia đình cháu bắt đầu dò và đăng lên mạng internet để tìm hiểu những thông tin liên quan đến Đại đội 17 (C17-E52) tuy nhiên không biết được thông tin C17 là đại đội gì?
Đến tháng 11/2011 cháu  được chú Phận (0984473038) tại Sao Đỏ Hải Dương là CCB tiểu đoàn đặc công 403 và chú Xuyên là lính thông tin liên lạc (0974834249) tại Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc là CCB tiểu đoàn 8(D8-E52) thuộc Sư đoàn 2, gọi điện cung cấp thông tin về trường hợp người của Trung đoàn 52(E52) hy sinh ngày 26/9/1972 tức là hy sinh trong chiến dịch Giải phóng Ba Tơ vì tiểu đoàn đặc công 403 và 406 có mặt cùng Trung đoàn 52 Sư đoàn 2 để đánh giải phóng Huyện lỵ Ba Tơ và khu biệt Kích Đá Bàn.
Đến tháng 4 năm  2012, gia đình cháu có vào làm việc lại với Cục chính sách Quân khu 5- Đà Nẵng một lần nữa thì biết thêm được thông tin khẳng định là liệt sỹ Lâm hy sinh tại Ba Tơ-Quảng Ngãi và bay mất thi hài, tuy nhiên phiên hiệu C17 là đại đội gì thì cũng không tra cứu được.

Tháng 7 năm 2012 cháu có vào Huyện Ba Tơ để dò tìm thêm thông tin nhưng không có thêm được bất cứ thông tin gì vì tất các  nghĩa trang tại Huyện Ba Tơ đa số là các ngôi mộ là vô danh. Qua trang web này cháu kính nhờ các chú CLB bạn quân Ngũ – Sư đoàn 2- Quân Khu 5 giải mã giúp cháu về phiên hiệu C17 và nếu các chú có bất cứ thông tin gì liên quan xin báo giúp cháu về địa chỉ:
Lê Quang Nam – Phòng 904-CT4A1-Bắc Linh Đàm-Phường Đại Kim-Quận Hoàng Mai- Thành Phố Hà Nội- ĐT 0903214925-
EMAIL qnam2001@gmail.com -
Cháu xin chân thành cảm ơn

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

ĐẠI TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN


Kính dâng hương hồn Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
 
Vẫn biết Người đi như thế rất thanh cao
Sau siêu thoát, Người đã thành Đức Phật!
Nhưng giây phút tiễn đưa mãi mãi là sự thật
Hoa rợn đường giá không phải hôm nay!

Già trẻ gái trai nước mắt nghẹn hàng cây
Chảy mãi về khu nhà số 30, Hoàng Diệu
Chuông chùa vọng một ngày Thu nặng trĩu
Hàng cây buồn lời biệt đẫm thương đau!

Từ Điện Biên đến Mũi Cà Mau
Nghe tin dữ lồng ngực cồn sóng dội!
Đại Tướng không phải là riêng của những anh Bộ Đội
Người đích thực là Đại Tướng Của Lòng Dân.

Khi sợi tóc treo vận nước nghìn cân
Như ngọn cỏ trước phong ba bão táp
Lòng quân vẫn ấm trong trường kỳ chống Pháp
Để làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu.

Hai mươi năm đánh Mỹ, tiếp đánh Tàu
Cả nhân loại gọi Người là núi cao chót vót.
Đại Tướng chỉ nhận mình là người lính Cụ Hồ chiến đấu vì tình yêu Tổ Quốc
Không muốn máu chảy đầu rơi, không muốn có bạo tàn.

Đại Tướng muốn những ngón tay cầm súng đâm lê là những ngón tay để nhân loại chơi đàn
Tiếng hát hòa bình phải vang lên chứ không phải là tiếng khóc.
Tổng kết chiến tranh là tổng kết máu xương Dân Tộc
Không vì những tượng đài. Vì hai tiếng Non Sông!

Những câu thơ hay nhất viết về Ông
Như lá cỏ giữa mênh mông thảm cỏ
Xanh đến mấy vẫn nghìn lần xanh nữa
Ngày nối ngày vô tận thơm tươi.

Người trải qua một thế kỷ bom rơi
Vẫn mát lành một nụ cười nhân hậu
Nước mắt Người đã lăn cho từng giọt máu
Mỗi lần nghe một người lính hy sinh.

Đại Đại Đoàn Quân thân thiết một gia đình
Chiến sĩ coi Người là người Cha, là Người Anh Cả
Ngọn núi lửa nhận về mình tuyết giá
Để mọi đoàn quân không một vết thương lòng.

Đại Tướng đã rèn luyện, sản sinh ra bao thế hệ Anh Hùng
Mở trang sử nghìn đời vẫn bình minh chói lọi
Người đơn giản như Nhân Dân vẫn gọi
Đại Tướng là Đại tướng Của Lòng Dân.

Người đã tạo nên bao ca khúc khải hoàn
Xẻ dọc Trường Sơn, Sài Gòn thẳng tiến
Xuyên Địa Đạo Củ Chi, mở đường Hồ Chí Minh trên biển
Pari chuyển rung, Lầu Năm Góc kinh hoàng.

Tóc người bạc phơ bởi mỗi giây phút chiến trường
Để bom đạn đỡ rung trên từng tấc đất
Người khao khát một Con Đường Hòa Bình ngắn nhất
Nhưng không chọn cách đi bằng bất cứ giá nào.

Có thể phải kéo pháo ra rồi lại kéo pháo vào
Có thể mồ hôi phải đổ nhiều thêm để làm công sự
Mỗi trận đánh bớt được một tờ báo tử
Còn vui hơn chất máu xương để đến đích trước một ngày

Người đã nâng sức mạnh đội quân xuất thân từ những dân cày
Từ chân đất áo nâu thành Đội Quân Bách Thắng!
Mỗi người lính biết nhân lên tinh thần Phù Đổng
Biết nhân lên sức mạnh của Sơn Tinh!

Nghìn năm tinh hoa trong nhịp đập tim mình
Từng hơi thở thấm sâu lời Bác dạy:
“ Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Hồn Bà Trưng, Bà Triệu từ mấy nghìn năm trước
Nhập sức mạnh về mỗi trận tiến công!

Người biết nhân tình yêu đất đai thành hùng khí Non Sông
Thành Hịch Tướng Sĩ văn, thành Bình Ngô Đại Cáo
Thành sức mạnh thần kỳ Tuyên Ngôn Độc Lập
Bác Hồ kính yêu đọc giữa Ba Đình!

Từ mã tấu, lưỡi lê, súng kíp Tân Trào
Thành trùng điệp những binh đoàn xe tăng thiết giáp
Thành súng ngắn súng dài đủ tầm cao tầm thấp
Thành tên lửa, máy bay làm chủ bầu trời.

Thành những Hạm đội tàu ngầm tàu nổi giữa biển khơi
Đối mặt với kẻ thù giữ yên biên cương hải đảo
Mỗi ngọn sóng một thành trì xương máu
Từ Trường Sơn cờ đỏ đến Trường Sa!

Gạt ra ngoài những ngôn từ son phấn tụng ca
Gạt ra ngoài những tung hô sóng dội
Dân tộc này triệu máu xương một khối
Không thể một người riêng rẽ tỏa hào quang.

Năm mươi tư dân tộc anh em đã dàn một hàng ngang
Cả Đất nước đã xếp thành hàng dọc
Đồng thanh hô vì Tự Do Độc Lập!
Ngực mỗi người đều sẵn sàng lấp lỗ châu mai.

Gần bảy mươi năm sát cánh kề vai
Trăm lớp nghìn vòng quây quần quanh Đại Tướng
Hàng trăm cánh rừng xác xơ sau bão
Sao một người tận hưởng hoa thơm?

Người đau đến chừng nào khi nhìn những nghĩa trang Đường Chín – Nam Lào, Bến Dược, Trường Sơn
Sóng trắng vỗ trùng trùng ngôi mộ
Người đau đến chừng nào khi nhớ về Thành Cổ
Chúng ta đã đi như thế đến Sài Gòn!

Chúng ta đã đi qua các nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc, Côn Lôn
Ai tính hết sự hy sinh dưới máy chém kẻ thù hay trong chuồng cọp
Hàng triệu cuộc chia ly để có ngày sum họp
Cái giá của cha gặp lại con, vợ gặp lại chồng!

Khi gởi mệnh lệnh cho cuộc Tổng tiến công:
“ Thần tốc! Thần tốc! Thần tốc hơn nữa! Táo bạo! Táo bạo! Táo bạo hơn nữa!…”
Đại Tướng hiểu những căn nhà hai mươi năm nay chưa hề khép cửa
Những người mẹ nén nước mắt vào tim đợi giây phút con về.

Mở Lịch sử nghìn năm từng lối xóm ngõ quê
Cuộc chiến tranh nào cũng là nơi đầu tiên đưa tiễn!
Thắng trận không có nghĩa là viết chữ “Muôn Năm” treo thật nhiều tấm biển
Mà phải lắng nghe Hạnh Phúc thật sự reo trong từng trái tim người.

Chỉ có Nhân Dân mới mới xứng đáng để dựng Tượng Đài
Chỉ có Nhân Dân mới viết nên những thần kỳ binh pháp
Nên khi Thượng nghị sĩ Mỹ Ed-uốt Ken-nơ-đi hỏi Đại Tướng ở Việt Nam Tướng nào giỏi nhất?
Không ngần ngại, Người trả lời tức khắc:
- Nhân Dân.

Cắt nghĩa vì sao khi Người siêu thoát Vĩnh Hằng
Cả Đất Nước nghiêng về số nhà 30, Hoàng Diệu
Một lần nữa, thêm một lần ta hiểu
Người mãi mãi là Đại Tướng Của Lòng Dân.


 Tác giả : NGUYỄN MINH KHIÊM

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

HÀNG TRIỆU NGƯỜI TỰ CÀI LẤY BĂNG TANG...


 
 
Kính viếng Vị tướng tài Võ Nguyên Giáp

Ôi! Vẫn biết phút giây này sẽ đến
Mà làm sao tim vẫn nghẹn nên lời
Vị tướng tài bao triệu người quý mến
Trái tim Người ngừng đập... Việt Nam ơi!

Tin buồn đưa giữa chiều tối đất trời
Tin buồn đưa đến muôn nơi trái đất
Tin buồn đưa ngỡ chưa là sự thật
Vị tướng tài! Nay đã mất rồi sao?

Từng hàng tre ngỡ như cũng lao xao
Từng trái tim thấy nghẹn ngào thương tiếc
Bữa cơm tối từng nhà dừng ăn tiếp
Cháu ngây thơ ngơ ngác biết chuyện gì?

Vẫn hiểu rằng vòng tử biệt sinh ly
Chẳng ai thoát, chẳng có gì níu được
Đời nhân hậu mấy ai so sánh được
Thế kỷ đời điều mong ước nhân gian!

Khu rừng xưa nghe vọng tiếng suối ngàn
Tên anh Văn vẫn vọng vang bờ cõi
Quân lệnh đầu tiên rõ từng tiếng nói
Phai Khắt, Nà Ngần chói lọi sử xưa...

Đờ Cát gục đầu, hai cánh tay đưa
Từ dưới hầm lên vẫn chưa hiểu nổi
Là tướng phương Tây không ngờ phút cuối
Thành hàng binh cúi đầu dưới sao vàng

Cầu Hiền Lương chia cắt Bắc Nam
Cuộc chiến mới với vô vàn gian khó
Lời Bác Hồ trong tim ai khắc rõ
"Không có gì quý hơn độc lập, tự do!"

Pháo đài bay? Ta thiêu chúng ra tro!
Vua chiến trường? Ta đập bò ra hết!
Xẻ Trường Sơn! Bao đoàn quân mải miết...
Vị tướng tài thêm anh kiệt vô song.

Nhật lệnh tuyệt vời, dân tộc chờ mong
Thần tốc nữa lên! Vang trong quân ngũ!
Táo bạo nữa lên! Từng giây tranh thủ...
Giải phóng miền Nam! Một nửa cõi bờ...

Khúc khải hoàn rộn rã nhạc và thơ
Quốc kỳ tung bay ước mơ đã thoả
Vị tướng tài thấy nỗi niềm sao lạ
Trong ngày vui như thấy có Bác về...

Tóc bạc một đời binh nghiệp say mê
Tạm quên chiến trường quay về cuộc sống
Đảng giao việc gì không hề nao núng
Dù có tạm quên gươm súng, sa bàn...

Nụ cười vẫn hiền, tình vẫn chứa chan
Tuổi tác càng cao lại càng đức độ
Bên người lính xưa chia từng cảnh ngộ
Giữa những gian nan vẫn tỏ tim hồng

Ôi! Vị tướng tài rạng rỡ núi sông
Sử vàng mãi ghi chiến công lừng lẫy
Lễ tang Người... có thể không đến đấy...
Hàng triệu người... tự cài lấy băng tang...


Nhà giáo Lê Thống Nhất
ST 

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

CHÚ BÁC NÀO BIẾT CHỈ GIÙM CHÁU

Cháu là Đậu Văn Nam tìm mộ liệt sỹ



Họ và Tên: ĐẬU QUỐC KHÁNH

Năm sinh:1940

Quê Quán:Nam Mỹ,Nam Đàn,Nghệ Tĩnh

Nhập ngũ:(theo giầy báo tử 6/1962)

Đơn vị: C11.D3.E1.F2.QK5

Cấp Bậc/Chức vụ:Tiểu đội bậc truởng/Tiểu Đội Trưởng

Ngày hi sinh:7/2/1965

Truờng hợp hi sinh: Chiến Đấu

Nơi hi sinh: THĂNG BÌNH.QUẢNG NAM

Nơi an táng ban đầu:ĐỒNG DUƠNG.BÌNH ĐỊNH,THĂNG BÌNH.QUẢNG NAM



Cháu có đính kèm các giấy tờ liên quan đây, mong các chú, các bác và mọi người giúp cháu.
Cháu cảm ơn bác rất nhiều
ĐT của cháu : 0169 713 7132.









Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Quả lựu đạn Mỹ dưới lưng bạn tôi nằm

QĐND - Tôi nguyên là chiến sĩ đại đội 18 thông tin của Trung đoàn 141, đoàn H. Sau khi đánh Nam Lào xong, hè 1971,  đơn vị tôi vào giải phóng Pha Lan, Đồng Hến, tiếp tục hành quân hướng Tây Nguyên với tinh thần: “Trường Sơn chuyển mình, Pô kô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên”. Chúng tôi vào đánh Đắc Tô-Tân Cảnh như xem phim: Pháo rót vào, tăng tiến lên, bộ binh theo sau giải phóng. Anh bạn tôi là Nguyễn Xuân Hương, ở đại đội trinh sát tâm sự: Thế hệ chúng mình sẽ tiếp quản thành phố Sài Gòn. Nhưng...

Biệt khu 24 - Những ngày máu lửa
41 năm trước, chúng tôi hăng hái lên đường. Gia đình Hương có hai trai, anh trai đang ở mặt trận. Hương được miễn nghĩa vụ, lại đang công tác ở nhà máy xay. Thế mà, nghe tin ở quê tuyển quân, Hương vội về viết đơn tình nguyện lên đường. Hương ngoan, hiền lành, chịu khó, nên trung đoàn đưa Hương làm công vụ cho đồng chí trung đoàn phó tên Đăng. Sau đó, Hương được cử đi học y tá và làm y tá cho đại đội 21 trinh sát. Công việc nào Hương cũng làm tốt, được đồng đội tin yêu.

Thăm người đồng đội chưa biết tên ( chụp tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Bình Thuận - ảnh:NGUYỄN VĂN MINH)


Ta quyết định đánh vào thị xã Kon Tum dịp 19-5-1972 để lập thành tích dâng lên mừng sinh nhật Bác Hồ. Lương thực quá khó khăn, chúng tôi xuất trận với súng ống và cả… bánh sắn bên mình!

Tôi được lệnh đeo máy dẫn đường vào cửa mở. Hương cũng đánh trận thị xã Kon Tum. Mấy ngày khi ngớt tiếng súng, tôi gặp Hương ngồi giữa mênh mông của phi trường. Hương chia sẻ cho tôi ít đường, sữa, lương khô. Còn cái bánh sắn, Hương cũng chia đôi bảo tôi ăn. Thấy tôi ngần ngại, Hương nói: "Cậu ăn với mình đi, kẻo rồi đánh nhau nhỡ có chết không phải làm... ma đói!".

Tôi và Hương đều cùng được lệnh chiến đấu giữ biệt khu 24 của sân bay. Cả thị xã Kon Tum ầm ào tiếng gầm rú của các loại pháo, đạn, xe tăng ù ù chà đi chà lại đến nhức óc. Rồi có lẽ, ruồi nhiều thế nào thì trực thăng của địch lúc đó gầm thét giữa bầu trời nhiều như thế. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó “Quyết tử thủ Kon Tum” mà!

10 ngày sau, 5-6-1972, khoảng 8 giờ tối, tôi nhìn sang lô cốt của Hương (vì từ chỗ tôi sang chỗ Hương khoảng 10-12m), Hương đang chững chạc nhả đạn về phía quân thù. Nhưng ôi! Một ánh chớp chói lòa, một âm thanh chói tai! Hương hy sinh rồi! Tôi và đại đội phó Quang nhảy lên khỏi hầm, một ánh chớp nữa lóe lên, tôi “bị” rồi và một suy nghĩ thoáng nhanh: “Vĩnh biệt mẹ!”. Nhưng may mà tôi không hy sinh, được cấp cứu, điều trị và ra Bắc.

Chiến tranh kết thúc, làng tôi có 3 anh em là  tôi, Biềng, Hương cùng lên đường chiến đấu từ cuối năm 1969 thì hai người hy sinh. Tháng 4-1970, Biềng được điều đi trước vào đơn vị xăng dầu đường dây 559. Chúng tôi bảo nhau: Được vào đơn vị đó, chắc chắn cuộc chiến kết thúc, “cái gáo” chắc chắn đem về cho “u” rồi…

Thế mà, một bữa, sau khi đánh Nam Lào xong, tôi và Hương lếch thếch trên vạt đồi đi lấy gạo. Thấy mấy nấm mồ ven đường, đất lấp gần như còn mới, chúng tôi nói với nhau:
- Vào xem ai lại hy sinh ở đây!
 Vào đến ngôi mộ đầu tiên, chúng tôi không tin vào mắt mình: “Hạ sĩ Trần Đức Biềng. Quê quán: Ninh Sơn, Gia Khánh, Ninh Bình...”. Hai chúng tôi đột ngột quá! Đứa nọ nhìn nhanh sang đứa kia, từ từ ngả mũ, nghẹn ngào…
Hè 2007, vợ chồng tôi trong một chuyến du lịch, được thăm viếng nghĩa trang Trường Sơn, tôi lại bàng hoàng thấy mộ Biềng, Biềng đã được quy tập về đây. Việc của Biềng thế là tạm ổn, còn Hương?

Tôi về tìm lại bạn tôi
Hương và tôi cùng cảnh ngộ, cùng sở thích nên hình ảnh bạn vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Vợ chồng tôi bảo nhau, cố gắng 27-7 hằng năm xuống gia đình thắp nhang cho Hương. Một trong những nỗi trăn trở day dứt trong tôi là chiến tranh trôi qua đã nhiều năm, giờ vẫn chưa biết Hương nằm lại nơi nào. Cũng một phần bởi gia đình Hương nghèo lắm! Bố mẹ mất rồi, anh trai mất rồi, chị gái bị mù từ nhỏ, chị dâu và các cháu còn vất vả với cuộc sống mưu sinh.

Tôi bàn với vợ, phải gặp gia đình Hương, lo cho được chuyện này. Khi tôi đến gặp, gia đình rất mừng, đặc biệt chị dâu của Hương và cháu gái Huệ. Nhưng quyết tâm là thế, trước mắt còn bao nan giải. Một là, chỉ biết Hương hy sinh ở Kon Tum, khu vực biệt khu 24, giờ chẳng rõ nơi nào. Hai là, tổ chức chuyến đi Kon Tum sẽ tốn kém không phải một triệu, hai triệu mà phải vài chục triệu, một con số không nhỏ với gia đình Hương! Song, tôi đề nghị gia đình cứ mạnh dạn lên, có quyết tâm, có sự đoàn kết, mọi khó khăn sẽ qua. Tôi quyết tâm cùng gia đình bạn đi tìm hài cốt, vì tôi đã từng trực tiếp chứng kiến lúc Hương hy sinh. May mà khi tôi xin phép Ban giám hiệu trường tôi công tác, các anh đều ủng hộ ngay. Khó khăn thứ hai, chúng tôi tìm đến một nhà ngoại cảm chuyên tìm hài cốt liệt sĩ, nhờ hướng dẫn, giúp đỡ. Bạn tôi hy sinh ở thành phố Kon Tum là chính xác rồi nhưng phường, phố nào thì tôi đâu biết? Thông tin thu được từ nhà ngoại cảm cho biết, nơi yên nghỉ của bạn tôi hiện ở tổ 3, phường Thắng Lợi, Thành phố Kon Tum, khá khớp với hoàn cảnh bạn tôi hy sinh, càng củng cố quyết tâm lên đường của chúng tôi.

Chúng tôi quyết định lên đường vào Kon Tum ngày 6-5-2011. Tôi về viết giấy xin phép, xuống trường nơi tôi dạy. Thời gian này đang cuối năm, công việc ở trường cực kỳ bận rộn. Không ngờ thầy Trần Quang Vinh-Hiệu trưởng, không chỉ đồng ý ngay mà còn nắm tay tôi: “Đi tìm đồng đội, liệt sĩ là việc thiêng liêng, là trách nhiệm của tất cả chúng ta, anh cứ đi, việc ở nhà có chúng tôi!”. Tôi gặp anh chị em trong tổ, nói anh em thông cảm và bàn giao chuyên môn. Thật tuyệt, từ chị Loan tổ phó đến tất cả các anh em đều rất nhiệt tình ủng hộ và động viên tôi lên đường.

Đoàn đi gồm 9 người từ Ninh Bình, nhằm hướng Kon Tum lên đường. Rất nhiều bà con, kể cả không phải họ hàng đưa tiễn chúng tôi, nhiều người khóc, cả Yến (vợ tôi) nước mắt cũng dàn dụa. Thế đấy, một dân tộc, cuộc chiến tranh lùi qua gần nửa thế kỷ, vẫn những cuộc tiễn đưa đầy lệ. Giây phút ngắn ngủi ấy tôi chạnh nhớ mấy câu thơ trong bài “Đại đội 18, gia đình tôi” mà tôi sáng tác tặng đại đội 18 thông tin của mình, có đoạn: Bàn tay vẫy những bàn tay/Gạt đi dòng lệ, ngày mai trở về/Ra đi, nặng một lời thề/Diệt xong giặc Mỹ mới về quê hương...

Xe sắp đến ranh giới Ninh Bình-Thanh Hóa, tôi thầm nói với Hương:
- Hương à! Nơi đây là điểm nghỉ chân từ quê vào của những ngày kéo xe cải tiến đi lấy củi. Cơm đùm, cơm nắm vào đây phải không Hương. Đây cách nhà trên hai chục cây và còn phải vào sâu, trèo đèo lội suối trên dưới chục cây nữa, may mà giao thông ngày đó, xe cộ còn ít, nhiều khi vừa dắt xe, vừa đi, vừa ngủ gật. Bây giờ mà thế thì toi!”.

Xe vào miền Trung, qua cầu Bến Thủy. Tôi lại thầm nhớ tháng 7-1970, chúng tôi ngồi trên thuyền để tiến vào Nam, trên dòng sông này vang lên những câu hò, tiếng hát đầy lạc quan. Tiếng hò xứ Nghệ sao da diết đến vậy? Cầu Bến Thủy giờ quá hiện đại và nghe nói đang tiến hành xây dựng cây cầu Bến Thủy 2 nữa. Qua Đèo Ngang, không còn hoang tàn nữa mà nay là một hầm xuyên đèo khá hiện đại. Thật quá nhiều đổi thay, xương máu chúng tôi đổ xuống đã không uổng phí!

Cuối cùng, chúng tôi cũng tới UBND phường Thắng Lợi. Đồng chí Lê Đức Hòa-Phó chủ tịch phụ trách văn xã trực tiếp ra đón chúng tôi, dù hôm nay là ngày nghỉ chủ nhật. Anh nói: “Không sao, chúng ta đi tìm đồng đội mà!”. Nhìn vùng đất cao nguyên bạt ngàn mây gió giờ san sát nhà cửa, tôi chẳng thể hình dung nơi Hương nằm ở đâu. Hỏi hoài mà chưa ai biết biệt khu 24. Bà con thấy lạ vây quanh rất đông. Bỗng dưng tôi thấy xúc động lạ kỳ, thương bạn, tôi bật khóc đến khản tiếng. Lúc này, may mắn sao, tôi gặp anh Tuân đồng hương, quê Yên Mô, nhà anh chếch phía trước nhà văn hóa. Anh chỉ tay phía trước:
- Tôi về đây năm 1978, khoảng kia khi tôi về nó là phi trường, biệt khu 24 là khoảng nhà văn hóa.

Chúng tôi tới khu nhà văn hóa còn đơn sơ, hè có thảm cỏ khá rộng. Hình ảnh của 39 năm về trước, trận tấn công vào thị xã Kon Tum năm 1972 như những thước phim quay chậm hiện về.

Ngày hôm sau, thật diệu kỳ, chúng tôi đã tìm được nơi Hương nằm, khớp với thông tin thu thập từ trước và thực địa nơi chúng tôi từng chiến đấu. Bác Lê Văn Binh, nhà ngay sau gốc cây to, cho chúng tôi mượn bàn và nhiều thứ cần thiết để đặt lễ, làm thủ tục tìm hài cốt.

Chúng tôi bắt đầu đào. Một thanh niên từ nãy cứ theo dõi mọi hoạt động của đoàn, tự nguyện cầm xẻng, cuốc làm rất nhiệt tình, say sưa, mồ hôi vã ra, giúp chúng tôi từ đầu đến cuối. Sau tôi mới biết anh là Nguyễn Huy Dần, giáo viên Trường THCS Thắng Lợi. Càng lúc, bà con kéo đến càng đông. Có hai người đàn ông khoảng 40-50 tuổi nói nhỏ với nhau:
-  Họ lấy hài cốt người đã hy sinh, mình xuống giúp họ một lúc.
Nói rồi, họ tìm xẻng, tìm cuốc, cùng đào rất say sưa. Bác Lê Văn Binh, chủ nhà cạnh gốc cây, đào cuốc miệt mài, mồ hôi đầm đìa trên áo. Công việc ở ngay góc ngã ba đường phố, nghe nói tìm hài cốt liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu hy sinh trên quê hương nên bà con địa phương đứng vây chặt vòng trong, vòng ngoài, nhiều người nước mắt rưng rưng.

Cuối cùng, chúng tôi đã tìm được Hương. Đúng là Hương qua xác nhận của tôi, người trực tiếp chứng kiến lúc Hương ngã xuống. Tôi đề nghị bồi dưỡng cô bác đã nhiệt tình giúp đỡ, nhưng bà con đều khước từ. Chúng tôi làm các thủ tục với  UBND phường rồi lên đường đưa Hương về quê mẹ. 

 Khi tất cả mọi việc của nơi hốt cốt hoàn thành, xe lăn bánh về phía Quảng Nam, khoảng 20 giờ, xe dừng lại ăn cơm và nghỉ ngơi. Ngồi uống nước, cậu Thiện cùng đoàn thổ lộ với tôi: "Lúc lấy hài cốt, em nhặt được một con dao quắm và một quả lựu đạn anh à. Em đang để trên xe".

Tôi giật mình! Thì ra, đó là con dao quắm và quả lựu đạn US của Mỹ lâu ngày không còn mỏ vịt. Tôi thủ thỉ bên Hương:
- Hương à! Kẻ thù của ta nguy hiểm là thế! Chúng biết chính sách thương binh, liệt sĩ của ta mà! Một đồng chí hy sinh, nếu phải tiếp tục hy sinh cả tiểu đoàn để lấy xác đồng đội, ta vẫn phải làm. Nên khi chôn Hương, chúng đã cài lựu đạn, đúng không Hương! Cũng may mà thời gian đã 39 năm, lựu đạn mất tác dụng rồi Hương nhỉ!

Sau khi chúng tôi về quê, phường, đội xuống thu quả lựu đạn kiểm nghiệm sự an toàn, nó đã không còn khả năng gây nổ, họ trả lại gia đình làm kỷ vật. Nhưng gia đình Hương không muốn nhìn thấy thêm nỗi đau thương, chú em Hương đã mang vứt xuống dòng sông, dòng sông quê hương từng nuôi lớn chúng tôi... 

(Giáo viên Trường THPT Yên Khánh B - Ninh Bình)

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

PHIÊN HIỆU SƯ 2



I. SƯ ĐOÀN 2
Thành lập 20/10/1965 tại làng An Lâm, xã Phước Hà, huyện Tiên Phước , tỉnh Quảng Nam
Sư đoàn trưởng huyền thoại : Nguyễn Chơn – Anh hùng LL vũ trang nhân dân Việt Nam

II. CÁC TRUNG ĐOÀN.
1. Trung đoàn Ba Gia ( E1) vốn là đơn vị truyền thống của E 108 thành lập từ năm 1962. Sau chiến thắng Ba Gia E1 mang tên trung đoàn Ba Gia
Gồm các tiểu đoàn  : D40, D60, D90, D trợ chiến và các đại đội trực thuộc.
Sau đổi thành D1, D2, D3

2. Trung đoàn Ba Gia ( E21)  thành lập năm 1965 ở Hà Bắc .Tháng 7/1965 vào chiến trường nhập vào sư đoàn 2. Tháng 6/1971 nhập về sư đoàn 3 Sao Vàng. Tháng 6/1973 sau giải thể  về nhập lữ đoàn 52
Gồm các tiểu đoàn  : D22, D33, D44.

3. Trung đoàn 141 ( E141) vốn là đơn vị của sư đoàn 312 vào chiến trường Quảng Đà. Đến 7/1970 nhập Sư 2 . Từ tháng 6/1973 nhập vào Sư 3.
Gồm các tiểu đoàn  : D3, D4, D5
4. Trung đoàn 31 ( E31) vốn là E 64  sư đoàn 320 vào chiến trường  10/1966 được bổ xung cho  Sư 2 . Năm 1971 E31 được tăng cường cho chiến trường B3 Tây Nguyên trong chiens dịch Đắc Siêng.  Năm 1972 đầu quân cho sư 711. Đến tháng 6/1973 sau khi F711 giải thể, E31 trở về sư 2.
Gồm các tiểu đoàn  : D7, D8, D9

5. Trung đoàn 52 ( E52) vốn là đơn vị của sư đoàn 320 vào chiến trường Tây Nguyên tháng 1/ 1972. Cuối năm 1972 nhập Sư 2 . Từ tháng 6/1973 E52 và D12 pháo binh tách khỏi sư 2 thành hình thành  lữ đoàn 52

6. Trung đoàn 36 ( E36) - Nguyên gốc E36 thuộc sư đoàn 308 tăng cường cho quân khu V trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Năm 1969 tạm giải thể và tập trung lại vào năm 1974 tham gia chiến dịch Nông Sơn- Tiên Phước. Đến tháng 10 năm 1974 đầu quân sư 2

7. Trung đoàn 38 ( E38) - Nguyên gốc E90 thuộc sư đoàn 324 tập kết ra Bắc theo hiệp định Giơ ne vơ . Năm 1961 khi  quay lại chiến trường rút gọn lại thành D trong đội hình lữ đoàn 324
Năm 1966 làm nhiệm vụ quốc tế ở Xavanakhets , sau chuyển về đường 9 đánh trận Gio An. Năm 1968 chốt giữ TP Huế. Năm 1972 đứng chân trong đội hình sư 711 cùng E 31 đánh Hiệp Đức , Cấm Dơi..Quế Sơn. Tháng 6 năm 1973 sau khi F711 giải tán trở về sư 2.

8. Trung đoàn pháo binh  368 ( E368) thành lập 22/12/1974 trên cơ sở tập hợp các tiểu đoàn pháo binh, cao xạ, súng máy của sư 2 và lực lượng tăng cường của quân khu V.

III. CÁC TIỂU ĐOÀN
1. Tiểu đoàn 70 bộ binh ( D70 ) nguyên là CBCS của tỉnh đội Quảng Nam sau tập kết trở lại chiến trường. D70 nằm trong đội hình sư 2 từ ngày đầu thành lập sau dó chuyển về tỉnh đội Quảng Nam
2. Tiểu đoàn 10 đặc công ( D10 ) thành lập tháng 6/1967
3. Tiểu đoàn 12 pháo mặt đất( D12 )
4. Tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm  súng phòng không  ( D13) Nguyên gốc D28  thuộc bộ tư lệnh 559 . Một bộ phận của E 368 sau này
5. Tiểu đoàn 14 súng phòng không  ( D14) một bộ phận của E 368 sau này

6. Tiểu đoàn công binh  (D15)

7. Tiểu đoàn pháo 85 mm  được QKV bổ xung tháng 1/1974 . Một bộ phận của E 368 sau này

8. Tiểu đoàn vận tải ( D19)

IV. ĐẠI ĐỘI 21 – Đại đội trinh sát trực thuộc F2

Ghi chú: Sưu tầm và nhớ lại nên còn gì chưa hoàn tất xin các đồng chí góp ý bổ xung