LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Trận cao điểm 547 (Campuchia) 4.1984




Sau 4 lần đánh, kể cả lần vào tháng 5.83 của Sư đòan 307 không thành công. Trận đánh căn cứ 547 lần này của QK5 là một trận đánh qui mô lớn, hiệp đồng binh chủng, do Tư lệnh QK5 trực tiếp chỉ huy.

Cao điểm 547 nằm trên dãy Đăng rếch (Dangreak/chiếc đòn gánh), dài khỏang 40km, chiều rộng 30km. Dãy núi nằm sát biên giới Thái lan, đứng dưới chân núi nhìn lên như một bức tường thành vững chắc, án ngữ một vùng rộng lớn.
Một trục đường lớn từ Thái lan vắt qua dãy núi. Dãy núi này về mùa khô nước chỉ có ở chân núi. Trong nội địa Campuchia, hầu hết là rừng khộp, lại càng khan hiếm nước. Hết mùa mưa là các khe suối cạn, nước chỉ còn đọng lại thành từng vũng nhỏ, có nơi đi hàng buổi đường mới tìm thấy nước. Dân cư thưa thớt, chủ yếu ở dọc theo trục đường từ Thái lan sang.

Bọn Polpot chọn dãy Đăng rếch làm căn cứ phía trước của chúng, gồm 2 chức năng:
1. Tạo chân hàng từ Thái lan qua
2. Dùng sức người tổ chức gùi hàng vào các căn cứ của địch ở sâu trong đất Campuchia.
Căn cứ địch có 2 tầng phòng thủ: tầng trên là các lọai hỏa lực, tầng dưới là mìn. Ở mặt đất địch gài mìn chông bộ binh, mìn chống tăng, địch còn treo hàng nghìn quả mìn trên đá, trên cây thay cho lính cảnh giới.
Đây là một căn cứ phòng ngự kiên cố, nhiều tầng, có chính diện, có chiều sâu kết hợp với đội hình phức tạp, núi cao trung bình 400-500m, có nơi 600-700m, đá lởm chởm, vách núi cheo leo, nhiều hang động, nhiều vách đứng có độ dốc từ 45 đến 60 độ, có nơi thẳng đứng muốn leo lên phải dùng thang dây.

Căn cứ 547 do sư 612 (thiếu) và sư 616 (thiếu) của Polpot chiếm giữ. Ngòai lực lượng bộ binh, địch có cả hỏa lực mạnh chi viện từ 1 đến 2 tiểu đòan pháo binh, 10-12 lần chiếc máy bay/ngày của Thái lan, bố trí cách đó 9-10km. Trên cơ sở 2 tần phòng thủ, hệ thống chốt điểm ở 547 chia làm 3 tuyến:
1. Tuyến an ninh cảnh giới bên ngòai
2. Tuyến đề kháng chính do bộ binh kết hợp với hỏa lực bố trí dựa vào các hang động hình thành từng điểm tựa có công sự gỗ tương đối vững chắc, có hệ thống vật cản thiên nhiên kết hợp với rào dây thép gai và các lọai mìn
3. Tuyến trung tâm gồm sở chỉ huy, lực lượng bảo vệ, kho tàng thành từng cụm, có những khu kho vào sâu trong biên giới (TL?).


Về phía ta lực lượng tham gia trận đánh gồm:
- F307 đủ,
- E1/F2,
- E143/F315
- 1 E pháo
- 1 E Cao xạ
- 1D xe tăng
- 1D xe bọc thép M113 (35 xe)
- 1D cao xạ 37mm


Khó khăn của quân ta trong trận đánh này là khó khăn về tư tưởng, vì nhiều lần đánh 547 không thành công, đặc biệt lần đánh thứ 4 của F307, trận đánh không giải quyết được vì thiếu nước uống, thương vong cao, bỏ sót thương binh, liệt sỹ lại chiến trường.

Đồng chí Tư lệnh mới về nhận nhiệm vụ tư lệnh QK5 khi đi kiểm tra MT579 và nghiên cứu chiến trường tại chỗ, xác định khâu chuẩn bị, đảm bảo cho trận đánh là vấn đề tiên quyết, nên đã đề ra một số nội dung cần chuẩn bị:
1. Tổ chức trinh sát nắm địch:
a. Tổ chức 7 tóan trinh sát của các E, F và MT579 và sau đó tổ chức trinh sát của người chỉ huy theo dự kiến phân công theo từng hướng.
b. Tư lệnh và các cơ quan chủ chốt của QK và MT579 đi kiểm tra. Trong thời gian 2 tháng đã có hơn 200 lượt người đi trinh sát chuẩn bị.
c. Đồng thời QK tổ chức hệ thống trinh sát quân báo gồm: đặt 4 đài quan sát, 4 đội trinh sát luồn sâu, 25 tóan trinh sát cơ động, 1 tóan trinh sát bắt tù binh và 13 tóan trinh sát dự bị.

2. Tổ chức tập huấn, huấn luyện:
Tuy là đơn vị cũ, nhưng phần lớn cán bộ chiến sỹ mới nên việc tổ chức tập huấn huấn luyện rất quan trọng. Đối với cán bộ chỉ huy từ cấp C đến F: tập huấn về chiến thuật E, F đánh địch trong công sự vững chắc, tổ chức tập bài về phần quyết tâm và đồng thời rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 của F307. Đối với bộ đội tổ chức huấn luyện theo hình thức tiến công địch trong công sự vững chắc từ cơ bản đến diễn tập phân đội, có bắn đạn thật và luyện tập theo phương án.

3. Tổ chức cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào khu tập kết gồm hơn một vạn quân (11.000) trong đó đưa từ Việt nam sang 3.000 quân (E1/F2). Huy động 438 chuyến xe và 5 chuyến chyên cơ bằng trực thăng và AN 26 cho cán bộ từ Pleiku sang và phân đội A72 từ Hà nội vào Tà beng.
Vận chuyển vật chất hậu cần đảm bảo cho trên 11 nghìn quân có đủ lương thực, thực phẩm ăn trong thời gian chuẩn bị và bước vào chiến đấu (25 ngày, có 5 ngày lương khô/gạo sấy)
Đảm bảo vận chuyển 531 tấn vũ khí, đạn dược và phương tiện. Bảo đảm kỹ thuật cho 591 pháo, cối và cho tòan bộ súng bộ binh theo biên chế.
Để đảm bảo cho việc cơ động, vận chuyển QK giao lực lượng công binh bảo đảm và khai thông 3 mạng đường chính và đường nhánh dài trên 100km. Xây dựng và thiết bị 3 sân bay trực thăng. Khi bước vào chiến đấu, tổ chức 3 đội đảm bảo và hộ tống xe tăng thiết giáp, pháo binh chiếm lĩnh và cơ động chiến đấu. Tổ chức 6 đội khắc phục vật cản mở đường cho đột phá và tiến công của các đơn vị.
Về đảm bảo thông tin, QK tổ chức 2 xe tổng đài tiếp sức, 2 xe công trình. Huy động 830 máy vô tuyến điện và hữu tuyến điện, 670km dây và 1.628 cán bộ chiến sĩ thông tin.

4. Một công tác đảm bảo hết sức quan trọng trong trận đánh này là đảm bảo nứơc cho bộ đội. Rút kinh nghiệm trận đánh 547 lần 4 vì thiếu nước uống, bộ đội bị ngất xỉu, bộ đội đi tìm nước uống vấp mìn thương vong làm mất sức chiến đấu. Có đơn vị hành quân cả đêm, sáng ra hết nước không đánh được. Lần này có quy định rõ ràng bình quâ mỗi cán bộ chiến sĩ đảm bảo 5 đến 6 lít nước/ngày. 100% quân số tham gia chiến đấu có bi dông nước lọai 1 lít và 0,75lít, 40%-60% quân số được trang bị lọai bi đông 5 lít và can nhựa 4lit. hậu cần QK cấp hơn 1000 can nhựa lọai 10l, 20l, bao nilong lọai lớn có dây gùi cho đội vận chuyển nước cho từng E. Các tiểu đội và khẩu đội được cấp 1 bao nilong lớ bảo quản nước khi chiếm lĩnh.
Phương thức cung cấp nước của QK được tổ chức chu đáo. Đội xe chuyển nước của QK gồm 30 xe có 10 xe bọc thép hộ tống dẫn đường. Mỗi xe chở nước có 2 tec chứa nước lọai 3 khối. Các tec nước làm tại Đà nẵng từ các khoanh tôn làm cống nước của Mỹ còn lại. Số xe này chia làm 4 đội, có trang bị máy bơm nước. Từ nguồn về nơi trữ nước xa 40km. Tại 3 trạm tiếp nước, QK cấp 15 thuyền nhôm, các đội xe chở nước đổ vào thuyền nhôm rồi quay lại chở tiếp. F2 và F307, mỗi F có 2 trạm tiếp nước, tại đây các E lấy nước về phân phối cho các đơn vị. Có trạm tiếp nước ở sau lưng, sát ngay khu chiến làm cho bộ đội yên tâm chiến đấu, không sợ chết khát như các lần đánh trước. Đối với các đơ vị binh chủng, mỗi xe tăng, thiết giáp đều phải có thùng phuy (có nắp) chứa 100L, mỗi xe kéo pháo được cấp 1 phuy có nắp chứa 200L.

Diễn biến trận đánh:
Ngày 20.4 (N-5) các E của F307 thực hiện đánh tạo thế và vây cắt. E678 đánh ép từ đông nam căn cứ tạo điều kiện cho công binh mở đường, làm trận địa và triển khai hệ thống thông tin, E678 đã đánh tan một cánh quân địch ra ngăn chặn và đã chiếm được hồ nước Suối tre, điểm cao 106.
Cùng thời gian đó từ 20.4 đến 24.4, các E 94, 95, 29 của F307, E143/F315 phái trinh sát đi trước chuẩn bị hành lang và vào vị trí chuẩn bị vây cắt. Địch phát hiện được đã dùng cối 82 ly, B40, B41 bắn chặn. Quân ta vẫn khôn khéo giữ bí mật, cánh n ào lộ thì tổ chức đánh chiếm vị trí, cánh nào không lộ thì tránh địch, không cho địch phán đóan ý đồ của ta.
Trên hướng tấn công đột phá chính diện, E1/F2 và xe thiết giáp K63 (hay M113?), một đại đội xe tăng T54, pháo binh, cao xạ cũng vào triển khai chiếm lĩnh.
Ở mũi đánh phối hợp ngày 22.4, 23.4, trung đòan 19K của bạn bao vây và đánh chiếm khu vực Anlung.

7 giờ sáng 25.4, quân ta đồng lọat nổ súng tiến công. E1 của F2 được hỏa lực pháo binh chi viện, phát huy hỏa lực đi cùng của bộ binh, hỏa lực của xe tăng, thiết giáp, các đơn vị lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu được quy định. E1 nhanh chóng đánh chiếm được mục tiêu Z6. Đến hết ngày 25.4, E1 làm chủ hòan tòan các mục tiêu Z1, Z12, Z14.
Các trung đòan của F307 thực hành bao vây phía sau địch ở cánh phải. Đánh từ sau lưng địch đánh ra. Quân ta lần lượt chiếm các điểm cao, cắt con đường địch có thể chạy từ 547 sang Thái lan.
Ở cánh trái, mặc dù đã ở vị trí xuất phát, nhưng E143/F315 theo lệnh của MT719 (là mật danh Tiền phưong BTTM/BQP) không được đánh sâu vào đất Thái lan, do vậy nhiệm vụ của F307 (ở cánh phải) nặng hơn, phải nhanh chóng phát triển phối hợp với E1/F2 diệt gọn bọn địch.
Ngày 26.4, mức độ chống trả của địch ở các mục tiêu còn lại quyết liệt hơn. Lợi dụng các hang đá trên vách núi, chúng bố trí DKZ, trọng liên, đại liên bắn dữ dội khi ta nổ súng xung phong. Quan sát trực tiếp những thủ đọan chống trả của địch, sư đòan trưởng (F2) Trương Hồng Anh lệnh cho trận địa pháo 85 ly và pháo cao xạ 37 ly hạ nòng bắn “xăm” vào từng hỏa điểm của địch. Đại đội xe tăng T54 cũng được lệnh cơ động lên phía trước, dùng pháo trên xe tham gia tiêu diệt các hỏa điểm địch trên vách núi. E1 vừa theo dõi phát hiện mục tiêu cho pháo bắn vừa chớp thời cơ tổ chức xung phong đánh chiếm mục tiêu. F307 từ trên thế cao tiếp tục khép chặt vòng vây, đánh dồn địch lại. Đánh thẳng vào các căn cứ, kho tàng của địch. Đến hết ngày 26.4, quân ta đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu như Z1, Z1a, Z4.
Sáng 27.4, E1/F2 đã bắt liên lạc được với F307, phối hợp tấn công dứt điểm các mục tiêu còn lại quanh khu vực căn cứ 547 và tiến hành lùng sục, tảo trừ, truy quét tàn quân địch.

Kết quả:
Trận đánh này quân ta đã xóa sổ 2 sư đòan 612 và 616 quân Pol Pot (mỗi sư đòan địch thường từ 600 đến 1000 tên), lọai khỏi vòng chiến đấu 1800 tên, trong đó bắt sống 300 tên. Thu 515 súng các lọai gồm:
+ 1 khẩu cối 120 ly
+ 2 khẩu cối 100 ly
+ 92 khẩu cối 82 ly
+ 15 khẩu DKZ 75 ly
+ 16 khẩu DKZ 82 ly
+ 15 khẩu 12,7 ly
+ 17 đại liên
+ 33 trung liên
+ 147 khẩu B40, B41
+ số còn lại là AK và CKC
Thu nhiều quân trang quân dụng, hàng trăm tấn đạn, 30 tấn lương thực, một số tài liệu quan trọng.
Phá hủy 5 kho trang bị, lương thực và súng đạn. Triệt phá hòan tòan căn cứ cửa khẩu 547, chiếm giữ các khu vực qaunh các điểm cao then chốt. Quân ta tổ chức chốt giữ, xoay ngược các điểm chốt, nhằm mục tiêu về phía Thái lan.

Ghi chú
Khu vực điểm cao 547 chính là khu vực đền Preah Vihear.
Sư trưởng F2, Đại tá Trương Hồng Anh đã hy sinh sau trận đánh do trúng mìn địch còn sót lại ngay lúc đi xe lên khu vực đền.
F307 đã đánh vòng và vây ép chặn quân địch từ phía đất TL. Trong khi đó F2 và các đơn vị khác đánh chính diện từ phía đất
CPC.


Nguồn : Tập tin được lưu ở: Uncategorized

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Qua sông Cổ Cò

Ảnh chỉ có tính minh họa

Chính ủy bơi bì bõm giữa anh em
Không có thuyền, súng đặt lên bè chuối
Địch ở gần. Này đừng có nói
Bám vào vai tớ, tớ đưa sang.

Chị nuôi sang chưa? Tiếng chuyền râm ran
Cái phao thủng phì phì mặt nước
Khẩu A.K vẫn chưa mò lên được
Sắp sáng rồi, rét càng đậm hơn

Còn ba ca là chuyển hết thương
Y sĩ Tiểu đoàn tới bờ quay lại
Đừng để cậu Cường ướt nhé!
Tiếng thì thầm cứ lập bập vào nhau.

Sông Cổ Cò nhỏ thế mà nước thật sâu
Đêm tối đen không nhìn rõ mặt
Đố cậu biết tên Cổ Cò ai đặt
Có con cò nào cũng vượt sông đêm nay?


Nguồn : Dương Đức Quảng
Điện Bàn, Quảng Đà 8/1974


NỖI ĐAU THỜI HẬU CHIẾN




 Trích hồi ký “ Đường ra trận “
của ông Nguyễn Đăng San - CCB Sư đoàn 2


Lời hẹn ước khi chia tay trong buổi chiều thu năm 1972, bên dòng Sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi như một định mệnh cuộc đời.

Chúng tôi tìm được Đồng Văn Khải, người thương binh cùng nằm viện trên núi rừng Tây Nguyên theo lời hứa khi chia tay về đơn vị, Khải đang lang thang đi bán chè khô ở thị trấn Đông Anh, thành phố Hà Nội, người anh mang nhiều dấu tích của chiến tranh với đôi chân tập tễnh, cùng hai tai bị sức ép bom nghe không rõ.
Trên vai chiếc ba lô mang chè ngon của đất Thái Nguyên, bộ quần áo bạc màu điểm mấy miếng vá. Anh em ôm hôn nhau nhớ về một thời gian khó, trên đường về gia đình anh đã khóc và kể cho đồng đội nghe về nỗi đau sau chiến tranh của vợ chồng trong gia đình Khải:
Sau khi kết hôn xong người vợ mang thai cả nhà Khải mừng lắm. Nhưng rồi cái thai chẳng được bao lâu nằm trong bụng mẹ. Thuốc men chạy chữa mãi thì vợ sinh được một trai, một gái. Nhưng cả hai lại mang hậu quả của chất độc da cam/dioxin, chất độc tàn ác đã cướp đi quyền làm người của cả hai đứa con vợ chồng mình sinh ra.
Thằng con đầu mười mấy năm quằn quại trên giường bệnh như một con rắn, chữa mãi rồi cháu vẫn chết, đứa con gái thì loạn điên phá phách.
Chính từ bệnh tật của hai đứa, đã làm cho gia đình rơi vào cảnh nghèo khó và túng quẫn. Vợ chồng tần tảo khắp nơi, ai thuê việc gì cũng làm, mới có tiền mua gạo mắm muối cùng thuốc uống an thần cho hai đứa.
Lúc đầu hai con Khải mắc bệnh dị tật quái ác, do chưa hiểu biết đã có người nói độc mồm độc miệng, nào là hướng đất cát, mồ mả và ăn ở của gia đình. Năm cháu 18 tuổi bệnh quá nặng phải đưa đi bệnh viện, nhưng gia đình thì vô cùng khó khăn, chạy khắp xóm vay mượn được hơn triệu đồng bạc cho cháu đi viện. Rồi đứa con cũng vẫn ra đi trong nỗi buồn thảm thiết của gia đình. Còn món nợ vay của bà con hàng xóm cũng đã khá lâu mà vẫn không sao trả được, nhân dân nơi đây, còn khó khăn lắm.
Đứa con gái thứ hai đến nay mười bảy mười tám tuổi rồi, lẽ ra tuổi nó cũng sắp đi xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái. Thế nhưng người vợ chịu thương chịu khó lại phải ở nhà chăm sóc phục dịch cho con, sợ nó lên cơn phá phách chạy ra ngoài va phải ô tô, xe máy, nhẩy xuống cầu cống sông ngòi, moi móc chuột bọ cho vào miệng…
Gia đình họ hàng cũng cố chạy chữa, nhưng cũng khó mà qua được cái chất độc tàn ác ấy. Nhiều lúc nghĩ cơ cực quá vợ chồng Khải đã định liều mình xoá đi tất cả. Nhưng nghĩ đến những đồng chí đã một thời ra trận cũng vơi đi phần nào của nỗi buồn nghiệt ngã…

Chúng tôi còn cho nhau biết, anh em đồng đội đến thăm một số gia đình cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, nhìn thấy mà đau xót thương tâm.

Đó là anh Hạnh người thành phố Thái Bình, sinh bốn đứa thì đã chết mất ba. Vợ chồng Tôn người Nam Sách Hải Dương, sinh được hai cháu thì cả hai đều làm cho vợ chồng anh chị ấy sợ hãi trong những cơn hung dữ.

Đồng chí Nguyễn Đại Số, phường Hà Lầm thành phố Hạ Long, ba đứa con lúc đầu học giỏi, từng tham gia giải cờ vua cấp tỉnh. Không ngờ cả ba cháu lớn lên đều phát bệnh và phá phách những gì có trong nhà anh chị ấy vất vả làm ra.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Xoay hai đứa con gái sinh đôi, gào thét mỗi khi nắng gió trở trời, cấu xé nhau lúc ăn cơm và mặt trời mới mọc.

Vào nhà hai chị em ruột Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Văn Tâm, con của vợ chồng đồng chí Liên ở xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, da hai cháu bị nứt vỡ như những con rắn lột và máu mủ rỉ ra ngày đêm. Dẫu đã biết hai cháu như vậy, nhưng mỗi lần vào thăm mà vẫn giật mình và người bị tăng huyết áp.

Mỗi gia đình Cựu chiến binh, Thanh niên xung phong, Dân công hoả tuyến, tham gia chiến trường có nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/điôxin, là một biểu tượng được phơi bày bởi tội ác của chiến tranh do Mỹ gây ra. Chúng ta phải lên tiếng, các công ty sản xuất ra chất tác hại của Hoa Kỳ, phải có trách nhiệm về hậu quả đặc biệt nghiêm trọng này.

Tạm biệt Khải người thương binh nghèo, mang hậu quả tàn khốc của chiến tranh do Mỹ gây ra, chúng tôi quặn đau về một thời binh lửa, tôi và anh cùng biết bao đồng đội, từ chiến trường khói lửa trở về mà cuộc chiến vẫn quẩn quanh.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

CÕNG BẠN VỀ QUÊ


May mày vẫn còn
Không bị mối xơi
Không bị lũ cuốn trôi
                              như nhiều đứa khác.

Hôm chôn mày, vội vã
Đá tảng chặn nhát xẻng đào sâu
Sợ hòa bình lâu
Đồng đội ngậm ngùi,
                            lo lắng!

Mà hòa bình
Cũng chẳng ai tìm mày
Bao nhiêu việc
Kẻ quên
Người nhớ

Tao cứ tưởng mày đã vào Nghĩa trang
Đâu ngờ mày vẫn nằm đó!

Mẹ không còn
Cha không còn
Ở đâu cũng được
Nhưng người yêu mày
                               còn cất giữ ảnh của mày.

Thôi thì cứ theo người yêu về quê
Tao bỏ mày vào ba lô
Cõng đi tàu Thống nhất

Cấm cựa quậy để nhân viên tàu biết
Họ ách lại giữa đường thì khổ mày ơi!




Nguồn : Tác giả: Lý Hoài Xuân.
Với Liệt sĩ Nguyễn Hữu Nhơn.
Nguồn: Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số cuối tháng 5 năm 2008

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Người chỉ huy giữ chốt trên cao điểm: Păk Kụt. Tô Ngọc Lâm


Trích hồi ký “ Đường ra trận “
của ông Nguyễn Đăng San - CCB Sư đoàn 2

 Chúng tôi thuộc C7 – D2 – E1 – F2. Hay còn gọi là Đoàn Ba Gia. Mà không ai không biết đến một đơn vị đã được Đảng Nhà nước phong tặng ba lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Với những chiến công vang dội của chiến thắng Ba Gia-Vạn Tường ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi năm 1971 với chiến thắng ở Bản Đông- Sê Pôn- Đồi không tên. Điểm 660 và 723 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trên Cao nguyên Pôlôven. Đến chiến thắng lẫy lừng ở Đắc Tô, Tân Cảnh, năm 1972. Cùng mảnh đất khu 5 anh hùng.

Sau chiến dịch đánh ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào năm 1971 “Lam Sơn 719”. Đơn vị tôi nhận lệnh đến cao nguyên Pôlôven. Trung đoàn đánh thắng và giao cho trung đội tôi chốt giữ cao điểm Pắc Kụt, một cao điểm rất quan trọng của địch, vì đó là một điểm án ngữ cho một vùng rộng lớn của miền hạ Lào. Chính vì vậy, cao điểm trở nên vô cùng khốc liệt.

Địch cay cú bị quân ta đánh bật khỏi cao điểm mất vị trí án ngữ. Nên chúng đã điên cuồng dùng máy bay pháo kích và bộ binh đánh phá. Có bao nhiêu bom đạn ở vùng hạ Lào, đều được chúng huy động đến bắn phá cao điểm. Pháo từ xa nã tới, lính bộ binh phản công, chiếm lại cao điểm. Chúng bắn và la hét xông lên như một lũ thiêu thân.
Từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9, tháng 6, địch tấn công lên chốt vô cùng ác liệt. Nhưng chúng đã bị trung đội tôi đánh trả quyết liệt, làm cho giặc thiệt hại, ba đại đội lính nguỵ Lào & quân Thái Lan.

Mỗi khi địch xông lên, tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, bình tĩnh và ra lệnh.  “ Phải để địch đến thật gần mới được nổ súng…”. Những tên lính địch hiện rõ qua làn khói đạn, nghe rõ hơi thở hồng hộc của chúng. Địch tưởng đơn vị tôi không thể tồn tại sau những trận bom pháo dày đặc như mưa đổ xuống, có thằng kéo lê súng bước khật khưỡng như những thằng say rượu.

Tiểu đội trưởng Lâm ra lệnh: Bắn – chúng tôi nhất tề nổ súng, địch khựng lại, từng loạt đạn quật ngã binh lính địch liều lĩnh đi đầu. Chúng bất ngờ hoảng hốt trước cách đánh gần táo bạo gan dạ dũng cảm của tiểu đội, địch cuống cuồng la hét rút chạy. Anh Lâm hô lớn “ Xung phong ….”. Chúng tôi bật khỏi chiến hào, quét đạn tới tấp sát lưng địch, số địch còn lại tháo thân chạy xuống chân cao điểm. Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi thu lượm vũ khí trang bị địch bổ sung khi sắp hết đạn giữ chốt.

Máy bay, bom pháo địch đánh xuống, nổ gần ùng ục, oàng oàng. Tai chỉ còn nghe tiếng o….o. Hết bom, đến pháo kích, địch tụ lại dưới chân cao điểm, bắn đổ đạn rồi hò hét tiến lên. Nhưng không một thằng nào dám xuất hiện, vì cú đánh giáp mặt của đơn vị, đã dạy cho chúng biết thế nào là “ Cộng sản”.
Khói lửa mịt mùng đen đặc, tiếng súng dần thưa thớt. Tiếng máy bay ầm ì xa dần. Chỉ còn tiếng lốp đốp của những đám cháy quanh khu rừng gần cao điểm. Gió Lào cuồn cuộn mang theo cát bụi và cái nóng xua dần khói bom, khói súng. Trận địa quang dần, lúc này mới nhìn thấy mặt trời đỏ cũng dần xuống sau dãy núi phía xa.

Đồng đội tìm lại nhau theo vị trí phân công, chiến hào biến dạng. Khi đến vị trí của tiểu đội trưởng, thì anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chặt chiếc mũ cối ở bụng, lúc này tôi mới biết là anh bị thương rất nặng và ruột xổ ra nằm trong chiếc mũ anh đang nén giữ.  Máu từ bụng đã đổ ra đen quánh dưới vị trí anh đứng chiến đấu. Anh nói với mấy người còn lại trên cao điểm trong hơi thở đứt quãng.

 “…Các đồng chí … các em … quyết chiến đấu đến cùng, phải giữ chốt bằng được. Trả thù cho anh và đồng đội …”.
 Anh ra hiệu bằng cái đầu khẽ nhúc nhích, ba chúng tôi ghé sát vào người anh, nghe anh thều thào nói.
“… Sau này chiến tranh kết thúc … em nào còn sống trở về, nhớ tìm về quê cha mẹ anh ở đất Thái Bình kể lại trận đánh này cho gia đình anh nghe về cuộc chiến đấu giữ chốt và việc anh hy sinh ngày hôm nay…”

Ba chúng tôi là: Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến và Nguyễn Đăng San, từng người ghé sát xuống để anh đặt đôi môi khô ráp hôn vào má, bắt tay và anh mỉn cười thảnh thản ra đi tin tưởng vào những người còn lại.
Người tiểu đội trưởng dũng cảm kiên cường của đơn vị ra đi trong vòng tay của đồng đội lúc 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Chúng tôi còn lại trên cao điểm chống trọi giữ chốt. Mấy tiếng sau đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa, cho những cuộc chiến đấu tiếp theo.

CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH


Như thấy lại tuổi hai mươi
Như thấy lại một thời trong tôi lửa cháy
Một thời khát khao khờ dại
Chỉ biết dấn thân, đâu sợ hy sinh !

Như thấy lại năm tháng chiến tranh
Bạn và tôi, chúng ta cùng một hướng
Gian khổ khó khăn quyết không lùi bước
Khát khao dâng hiến... vì Tổ Quốc - độc lập tự do !

Những niềm tin ấu trĩ và ngây thơ
Bốn mươi năm sau, bất ngờ nhìn lại
Xác đồng đội đè lên xác giặc
Những linh hồn đều chấp chới bay lên ?!

Chỉ có em thôi, em vẫn mãi ngây thơ
Đợi chờ các anh trong vô vọng
Bốn mươi năm rồi bạn lính
Vẫn biệt tăm trong những cánh rừng...

Cuộc chiến tranh nào cũng đều bạo tàn
Và mọi người lính đều hóa thành tấm bia cho cuộc đời
ngắm bắn !


Nguồn : Kiều Anh Hương