LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Thư gửi mẹ

Mẹ ơi, có thể trong cuộc chiến đấu này
Con sẽ ngã xuống
Ngã xuống bình thường
Như bao đồng đội của con
Để mái nhà gianh mẹ được yên ả
Dưới sắc nắng vàng...

Và, có thể là, sáng mai bừng mắt ra
Mẹ sẽ nhận về một tờ giấy
Như nhiều bà mẹ ở làng
Tờ giấy mỏng manh
Nhưng lại nặng hơn ngàn tấn bom
Trút xuống tuổi già của mẹ
Cho dù thế, mẹ cũng đừng khóc nhé
Con không chết đâu

Xin mẹ cứ đọc Kiều
Cho căn nhà trở lại yên tĩnh
Dưới bóng cây bảng lảng hoàng hôn
Xin mẹ cứ ngồi tựa cửa chờ con
Như những ngày xưa
Mỗi chiều đi học về
Và mẹ lại lắng nghe
Tiếng bước chân bầy trẻ nhỏ
Chúng ôm sách, bá vai nhau, rúc rích cười
đi ngang qua cửa sổ
Đi ngang qua chiều
Yên tĩnh

Và đêm xuống
Đầy nhà
Đầy vườn
Đầy cả bầu trời...
Đêm ấm áp và mượt như lụa
Xin mẹ đừng khép cửa
Để gió vào
Gió hát trong căn nhà của mẹ
Những khao khát của trời mây
Và mẹ sẽ thiếp đi lúc nào không hay
Đến nỗi mẹ chẳng biết được
Thằng con trai mẹ về
Trong làn gió mát
Làn gió đã đi khắp trái đất
Hát ru những bà mẹ không con...

Trần Đăng Khoa

Cô gái Pa Ko

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Chiến dịch Đắk Tô



Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu.



Chiến dịch Đắk Tô, thường được biết đến là trận Trận Đắk Tô - Tân Cảnh là trận đánh mở màn cho Chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, diễn ra từ ngày 23 tháng 4 đến ngày 24 tháng 4 năm 1972 trên địa bàn Đắk TôTân Cảnh thuộc tỉnh Kon Tum.

Bối cảnh

Đăk Tô - Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Bắc Tây Nguyên. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum. Cụ thể gồm các đơn vị: Sư đoàn 22, Lữ đoàn Dù 2, một liên đoàn Biệt động quân cùng các chi đoàn xe tăng, pháo, không quân chiến thuật. Ngoài ra còn có sự yểm trợ bằng B-52 của Hoa Kỳ.
Về phía Quân đội Nhân dân Việt Nam, để thực hiện Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn là Sư đoàn 320 (gồm 3 Trung đoàn 52, 64 và 48) và Sư đoàn 2 (gồm 2 Trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), Trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000 người. Riêng tại mặt trận Đắk Tô - Tân Cảnh, lực lượng gồm các đơn vị: Trung đoàn 28, Trung đoàn 66, Trung đoàn 95, Trung đoàn 24B (Sư đoàn 10 sau này) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum do Phó tư lệnh mặt trân Tây Nguyên Nguyễn Mạnh Quân trực tiếp chỉ huy.

Diễn biến

Đúng 15 giờ ngày 23 tháng 4 năm 1972, pháo binh QĐNDVN nã đạn dồn dập vào căn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của QLVNCH. Vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, xe tăng T-54 xông thẳng qua thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở cửa phía Đông căn cứ Tân Cảnh. Chớp thời cơ đối phương hoảng loạn, Tiểu đoàn 9 của Quân Giải phóng cùng đội công tác tỉnh Kon Tum kêu gọi nhân dân nổi dậy. Cho đến 5 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4 năm 1972, QĐNDVN đã chiếm được thị trấn Tân Cảnh. Lúc này cuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội. Một mình chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 377 của QĐNDVN đã tiêu diệt 7 xe tăng địch trước khi bị QLVNCH bắn cháy bằng súng chống tăng. QĐNDVN dần dần làm chủ tình hình. Đến lúc 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 66 QĐNDVN đã làm chủ căn cứ Tân Cảnh. Theo phía QĐNDVN, họ bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 mm, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh.
Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, Bộ tư lệnh QĐNDVN mặt trận cánh Đông đã cho pháo binh bắn phá căn cứ Đăk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng). Vào lúc 8 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 đánh thẳng vào sở chỉ huy E47 ngay ở sân bay Phượng Hoàng, 4 xe tăng T-54 và một pháo tự hành cấp tốc rời căn cứ Tân Cảnh chi viện cho mũi tấn công tại căn cứ Đăk Tô 2. Sức kháng cự của E47 nhanh chóng bị đè bẹp, QĐNDVN làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.
Cụm phòng ngự mạnh của QLVNCH ở căn cứ Tân Cảnh - Đăk Tô 2 bị tiêu diệt. Đại tá Lê Đức Đạt, Tư lệnh Sư đoàn 22 QLVNCH tử trận, phần còn lại của sư đoàn rút vào rừng tìm đường về Kon Tum. QLVNCH đóng ở các căn cứ Ngok Blêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận Đăk Tô cũng bắt đầu rút chạy trong hoảng loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến Đăk Tô, về Đăk Mốt đã hoàn toàn nằm trong tay QĐNDVN. Tuy nhiên, sau trận đánh bản thân họ cũng bị thiệt hại đáng kể, nhiều xe tăng bị cháy, hậu cần thiếu, đặc biệt là đạn pháo nên 20 ngày sau mới tổ chức tấn công tiếp vào Kon Tum.

Kết quả

Sau khi tiêu diệt cụm phòng ngự Đắk Tô - Tân Cảnh, một căn cứ phòng ngự quy mô sư đoàn của VNCH, QĐNDVN đã làm chủ một vùng tương đối rộng, đồng thời gây ra bầu không khí hoang mang cao độ cho lực lượng phòng ngự ở thị xã Kon Tum. Lúc này, lực lượng VNCH ở thị xã Kon Tum rất mỏng và yếu, trong thị xã chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vị Địa phương quân. Điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cuộc tiến công quyết định vào thị xã. Nhưng lúc đó Bộ tư lệnh chiến dịch lại nhận định:
"Tuy địch ở Kon Tum rất hoang mang, sơ hở và mỏng yếu, nhưng ta chưa có đủ điều kiện để phát triển tiến công một cách nhanh chóng, mạnh mẽ vì đường cơ động chưa làm xong, việc bảo đảm cơ sở vật chất và triển khai binh khí kỹ thuật gặp khó khăn, nên quyết định mở đường để vận chuyển vật chất, đồng thời bổ sung cơ sở vật chất cho các đơn vị chuẩn bị tiến công Kon Tum."
Chính do sự chậm trễ này mà QĐNDVN đã đánh mất thời cơ để đánh chiếm thị xã Kon Tum, tạo điều kiện để QLVNCH có thời gian để kịp xốc lại tinh thần và bố trị lại lực lượng phòng ngự. Cuộc tiến công của QĐNDVN vào thị xã Kon Tum sau đó rút cục đã thất bại.

Nguồn : TẠI ĐÂY

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Đêm chuẩn bị

Ngày mai chúng ta đòi lại phù sa
ngày mai chúng ta về cười rung bè rau muống…
đêm chuẩn bị có gì mà khẩu súng
trằn trên tay lại dựa vào vai?

Sau một chặng đường dài
đêm nay chúng ta ngồi trong hầm chật hẹp
súng với người ủ trong lòng đất
trận đánh ngày mai thức dậy với mầm cây.

Qua một chặng đường dài
chính khẩu súng đã làm ta tươi tốt
hạt gạo vẫn thường ăn mà người trồng không biết mặt
sao ta nhớ những ai đang ở đâu!

Ta nhìn lên trời, trời dậy ta khát khao
ta đi trong rừng, rừng nuôi ta dài rộng
mẹ dõi theo ta thức khuya dậy sớm
nắm cơm chiến hào xúc động quá, sao mai!

Xúc động quá, quê ơi!
nỗi căm giận không cứ chờ phải máu
mẹ ta ốm, húp bát canh rau dệu
chị ta hay ngồi khóc dưới bếp một mình
em ta ngủ hầm, sinh thấp khớp
ta nghe người ta nói đết bút, tưởng bút để mà ăn
chợp mắt mơ thấy người cho khoai, cho sắn.
Đêm chuẩn bị có gì mà khẩu súng
trằn trên tay lại dựa vào vai?

Mưa choang choang như đá đập trên đầu
đất đẫm ướt gian nan không định trước
rừng cảm thấy điều gì không nói ra không được
ta nóng lòng ôm súng ngóng ngày lên.

Mưa bão liên miên, giặc giã cũng liên miên
ta nhạy cảm với trái tim chiến sĩ
cuộc chiến đấu nên thơ mà cũng khe khắt thế
để sống một nghìn năm, ta gắng vượt một ngày

Đêm chuẩn bị có gì mà khẩu súng
trằn trên tay lại dựa vào vai?

Ta đi trong rừng suốt một thời trai trẻ
đánh giặc là ước mơ vạm vỡ như rừng
quen nhớ nhà, quen nhạt muối
khúc dân ca hát đi hát lại
qua nhịp cầu, chân ta bước so le
măng lên sáng dọc đường đi
ôm bó chông dài săn thú dữ
đêm ngủ hầm, thèm sách vở
nghe tiếng chim hồi hộp chân trời
sao ta nhớ mùa, nhớ mùa quá, mùa ơi!
qua nương rẫy, ngẩn ngơ từng gốc rạ
sao ta yêu ta quá!
núi ngất quanh ta, đội ngũ đã xong rồi

Đêm chuẩn bị có gì mà khẩu súng
trằn trên tay lại dựa vào vai?

Sau một chặng đường dài
đêm nay chúng ta ngồi trong hầm chật hẹp
ngày mai chúng ta về
chúng ta về
cho con trai cày vỡ những bình minh
con gái đứng bên thềm hong tóc
cho chị lấy chồng xa về giỗ tết
cho mẹ già nhận mặt đứa con dâu.

Ngày mai chúng ta về gọi những cánh đồng bằng cái tên rất cổ
đất giấu những lá cờ như cây khô giấu lá
chúng ta về làm cơn mưa tự do..

Hữu Thỉnh.

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

ANH HÙNG TRẦN VĂN ĐÌNH



   Trần Văn Đình, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8 năm 1960. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó đặc công thuộc sư đoàn 2, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, tháng 8 năm 1960, Trần Văn Đình đã vận động 2 thanh niên nữa bí mật trốn ra vùng căn cứ của ta tham gia bộ đội. Trong những năm đầu cuộc sống chiến đấu gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, đồng chí được điều về đơn vị bộ binh, rồi làm chiến sĩ nuôi quân, đi sản xuất, nhưng vẫn luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tích cực, cần cù, tận tụy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

   Tháng 1 năm 1965, Trần Văn Đình được điều về đơn vị đặc công, đồng chí rất hăng hái luyện tập để nhanh chóng được tham gia chiến đấu. Mới học được 9 ngày, Trần Vãn Đình xin đi làm nhiệm vụ điều tra, chuẩn bị chiến trường.

   Trong 2 năm (1965 - 1966), Trần Văn Đình đã tham gia điều tra, chuẩn bị cho nhiều trận đánh, trực tiếp chiến đấu 9 trận, diệt 36 tên địch (có 7 tên Mỹ), bắt sống 5 tên, thu 21 súng các loại.

   Trong công tác điều tra, Trần Văn Đình có tác phong cụ thể, tỉ mỉ, chính xác. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn thể hiện rõ tinh thần tiến công dũng cảm, kiên cường, tác phong đánh nhanh, đánh mạnh, đánh thọc sâu, đánh bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.

   Trong trận đánh đồn Chà Vu (tháng 4 năm 1965), vừa được lệnh nổ súng, Trần Văn Đình đã nhanh chóng đánh thốc vào tung thâm vị trí địch. Bị thương vẩn không rời vị trí, đồng chí đã dũng cảm dùng tiểu liên, thủ pháo tiêu diệt từng hỏa điểm địch, chi viện tốt cho bạn diệt địch. Chỉ sau mấy phút, phân đội đồng chí đã diệt gọn vị trí địch và rút ra an toàn.

   Trong trận Ba Gia (tháng 5 năm 1965), vừa ở bệnh xá ra, vết thương chưa lành hẳn, Trần Văn Đình đã xin đi làm nhiệm vụ. Trận địa ta vừa bố trí xong thì địch phát hiện và nổ súng trước. Đồng chí dũng cảm lao lên như một mũi tên, giành quyền chủ động dùng tiểu liên diệt địch ngay từ đầu, truy kích sát gót địch, diệt 3 tên, bât sống 2 tên nứa. Sau đó đồng chí cùng phân đội làm nghi binh, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.

   Trong trận Chóp Chai (tháng 3 năm 1966), Trần Văn Đình được phân công đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí đã kiên trì bám địch và chuẩn bị đường tốt, đưa bộ đội vào nhanh và an toàn. Khi nổ súng, thấy mũi chính diện chưa lên được, Trần Văn Đình dẫn phân đội xông thẳng vào dùng thủ pháo đánh sập ba gian nhà rồi vượt đoạn hào giao thông đánh chiếm ổ đại liên của địch. Hỗ trợ cho mũi chính diện, Trần Văn Đình chủ động, dũng cảm lao vào đánh khu nhà chỉ huy, nhà điện đài, trận địa cối, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị vào diệt gọn 1 đại đội địch, làm chủ trận địa.

   Trong mọi mặt công tác, Trần Văn Đình luôn luôn gương mẫu đi đầu, sống khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thương yêu đồng đội, xây dựng đơn vị mạnh toàn diện, bảo đảm đã chiến đấu là giành thắng lợi.

   Trần Văn Đình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 bằng khen và giấy khen, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, Dũng sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ thi đua năm 1966 - 1968.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Trần Văn Đình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


Nguồn : DỰNG NƯỚC & GIỮ NƯỚC

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

ĐI TRONG RỪNG


Anh đi trong rừng, lá vỗ trên cao,
Gió bốn bề cây; cây ngả nghiêng chào,
Lay bóng đậm gió thổi vào đốm nắng.

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng
Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay;

Cây bồng bênh cười vui suốt ngày,
Thân thẳng cây chò, cành ngang cây bứa

Cây nhựa trắng là cây si, cây sữa,
Nhựa vàng cây dọc, nhựa đỏ cây nò,
Cây nứa mọc đứng, cây giang mọc bò,
Cây tầm gửi mọc ngồi đỏng đảnh,
Cây lim uy nghi, sa nhân ma mỏng mảnh,
Dạ hương của đêm, mắc cỡ của ngày.

Da bàn tay thường chạm với da cây,
Khuôn mặt người chạm vào mặt lá.

Rừng ơi rừng, ta bỗng gần gũi quá!
Không có những ngày này, hồ dễ đã quen nhau
Phạm Tiến Duật