LÍNH SƯ 2 CÓ LỆNH LÀ ĐI, ĐÃ ĐI LÀ ĐÉN, ĐÃ ĐÁNH LÀ THẮNG

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây


Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Ðông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không.

Em thương anh bên tây mùa đông
Bướm khe cạn nước bay lèn đá
Biết lòng Anh say miền đất lạ
Chắc em lo đường chắn bom thù

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư.

Ðông sang tây không phải đường như
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵng sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.

Từ nơi em gửi đến nơi anh
Những đoàn quân, trùng trùng ra trận
Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn, nối tây Trường Sơn



Tác giả : Phạm Tién Duật

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

KỶ NIỆM VỀ NGÀY 27 THÁNG 1 NĂM 1973 CỦA TÔI



Sa Huỳnh ngay sát núi, một khúc Trường Sơn hiểm hóc áp sát biển  nhô ra hai dãy đồi đá trọc như hai cánh tay khổng lồ ôm biển, tạo thành một cái vịnh nhỏ gọi là đầm Nước Mặn. Trên vị trí cao nhất của hai cánh tay này quân lực VNCH bố trí hai cứ điểm là Long Thạnh và Đá heo.
Cứ điểm Long Thạnh, nằm trên đỉnh một quả đồi lớn một phần là đất phần kia là đá. Con đường chính lên cứ điểm nằm ngoài quốc lộ I. Dưới chân là ấp Long Thạnh ôm lấy một phần đầm Nước Mặn.
Bao quanh cứ điểm Đá heo là những khối đá đã bị gió và sóng biển bào mòn hàng triệu năm trước. Con đường độc đạo lên cứ điểm Đá Heo là từ đồi Hải Thuyền
Đóng chốt  tại mỗi cứ điểm này là một trung đội lính VNCH.  Hỏa lực gồm 1 trung liên, 1 cối M19- 60mm, còn lại là trang bị cá nhân AR15, và M79.
Do chủ quan với địa thế, các cứ điểm này chỉ có 3 lớp rào khá tuyền toàng, gần như không có mìn. Hỏa lực yểm trợ cho các cứ điểm này là pháo từ hạm đội của Mỹ ngoài biển, pháo từ Núi Dâu và không quân.

Sau những lần trinh sát  ”Long Thạnh” và “ Đá heo”, phương án tác chiến đã được thông qua.
Kế hoạch chuẩn y, đại đội 1 đánh Long Thạnh, đại đội 3 đánh Đá Heo. Sở chỉ huy tiểu đoàn đóng ở ấp Long Thạnh, dưới chân cứ điểm Long Thạnh.
Việc chốt giữ sư đoàn đã giao cho các đơn vị bộ binh sau khi D10 hoàn thành trận đánh.
Chiều ngày 26 tháng 1 năm 1973 các anh Trần Đình, Nguyễn Niệm (Tiểu đoàn phó, D10) dẫn 2 đại đội xuống núi. Theo đường mòn, chúng tôi lặng lẽ hướng về Sa Huỳnh. Khoảng 20h thì đã tiếp cận đường quốc lộ I và chờ thời điểm vượt đường I.
Để tiếp cận hai cứ điểm này con đường bất ngờ và an toàn nhất, là qua hồ Nước mặn. Đầm nước mặn thông với biển nên tuân thủ theo quy luật của con nước. Buổi chiều đầm cạn, nước chỉ tầm thắt lưng, nhưng sau 23 giờ đầm bắt đầu ngập nước.
21h15 sau khi đã chốt hai đầu đường theo ám hiệu của tổ du kích dẫn đường,  chúng tôi vượt quốc lộ và tiến về hồ nước.
Đã chuẩn bị sẵn, mọi người nhanh chóng gói quần áo vào vải mưa làm phao, súng đặt trên phao, từng người,  cách nhau 3m lội qua hồ.
Màn đêm và con nước đã che hết mọi vết tích của cuộc hành quân tiếp cận cứ điểm.

Khi xang tới bên kia hồ, hai đại đội rẽ theo hai hướng, tôi đi theo C1.
Anh du kích và tôi lúc bò, lúc cúi đi trước dẫn cán bộ C1 tiếp cận mục tiêu. Khi qua hàng rào thứ hai, nơi lần trước đã một lần dẫn tổ chuẩn bị chiến trường tôi nói: “ Còn một lớp rào nữa là đến công sự địch, hàng rào rất tềnh toàng không có trở ngại lắm, các anh không được chủ quan, bảo đảm bí mật. Đến 24h05 thì nổ súng, ưu tiên bên Đá Heo nổ súng trước. Theo lệnh tôi về sở chỉ huy tiểu đoàn.”

Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt trong hầm tránh pháo cũ của một nhà dân bỏ hoang ngay dưới chân cứ điểm.
Đúng giờ G, phía cứ điểm Đá Heo bỗng sáng bừng lên, gần như đồng thời  cùng lúc là tiếng bộc phá, tiếng súng AK điểm nhịp chắc nịch ngay trên đỉnh Long Thạnh.
Trong hầm chỉ huy bộ đàm PRC25 được bật:
-        Đá Heo báo cáo, đã làm chủ trận địa.
-        Long Thạnh báo cáo, một số địch chạy về phía đường quốc lộ. Đã làm chủ trận địa. Bắt sống 2 tên và một phụ nữ. Ta hy sinh 2 1 bị thương.

Anh Niệm nói với tôi: “Em lên trên đó kiểm tra và giúp anh em làm công tác tử sĩ.”
Tôi chạy như phi lên trên đồi. Mọi người đang thu dọn, số khác vẫn truy kích những tên chạy theo hướng xuống quốc lộ I.
Sau khi kiểm tra, tôi gọi một chiến sĩ của C1 kiếm xẻng đi xuống lưng đồi tìm nơi chôn cất tử sĩ.

Hai chúng tôi chọn chỗ đất mềm và bắt đầu đào đất. Cái huyệt tôi đào mới ngập đầu gối thì nghe tiếng “Đềpa”. Linh tính tôi biết pháo bắn về phía chúng tôi, tôi nằm úp xuống cái huyệt mình đang đào còn chưa hoàn chỉnh thấy vừa in. Những tiếng nổ chát chúa nối nhau, mảnh pháo bay rào rào. Một ý nghĩ xoẹt trong đầu ” Mình đào huyệt cho chính mình” 

Dứt đợt pháo, như một phản xạ tự nhiên, tôi bật lên và lao thẳng xuống chân đồi. Mới chạy được một đoạn lại nghe tiếng “Đềpa” tôi nhanh chóng thu hai tay trước ngực cuộn người lăn tròn hướng về căn hầm sở chỉ huy mặc cho những mảnh pháo ràn rạt chém đứt lìa cành cây tán lá.

Tôi vừa kịp chui vào hầm thì cũng là loạt pháo thứ 3, căn hầm của sở chỉ huy rung lên đất rơi rào rào. Trong hầm, lờ mờ  tôi nhận ra bên phải tôi là anh Trần Đình, bên trái là anh Nguyễn Niệm, trước mặt là hai anh lính thông tin.
Một loạt pháo nữa, lần này tiếng nổ đanh hơn, có lẽ là đạn 175 chứ không phải là105, căn hầm như bị bứng lên. Anh Trần Đình bật lửa, trước mặt tôi một anh lính thông tin gục mặt đầu ngoẹo xang bên, máu giọt xuống áo. Một mảnh pháo xuyên qua lớp đất nóc hầm đâm vào đầu, khiến anh ấy hy sinh không kịp kêu lấy một tiếng, chiếc bộ đàm cũng bị một mảnh pháo khác xuyên qua, im tịt.

Lại một loạt pháo nữa, bỗng tôi thấy nhói ở lưng, dùng bàn tay trái tôi áp ngay lên chỗ vừa nhói đau ấy. Mảnh pháo còn nóng, cháy chín đốt 3 và 2 ngón tay áp út. Tôi nói:  Em bị mảnh rồi. Anh Niệm hỏi bị vào đâu? Tôi nói bị vào lưng nhưng không thấy máu.
Anh Trần Đình bật lửa thấy mảnh pháo cắm vào ngay bên phải sống lưng, một phần vẫn ở bên ngoài, do sức nóng mảnh pháo đã làm chín phần thịt xung quanh nên máu không chảy.
Anh Niệm nói với chúng tôi. Căn hầm này sắp không trụ nổi rồi, do máy bộ đàm trong hầm phát sóng nên địch nó bắn trúng, chúng ta phải chuyển chỗ thôi.
Anh hỏi tôi: Em đi được không?
Tôi cử động chân, tay thấy vẫn bình thường liền nói: Em đi được.
Anh Niệm nói: Ra khỏi đây em đi ngược lại về dẫy dừa lúc sáng lội xang, bộ phần hậu cần của tiểu đoàn ở đó. Anh còn phải liên lạc với anh em.

Tôi rời khỏi căn hầm “Tử địa” chạy theo các ruộng muối, tranh thủ pháo sáng nhận phương hướng tìm về trạm hậu cần là 4h30 sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Anh em trong tiểu đội trinh sát chúng tôi gặp lại nhau, không ai bị thương, ngoại trừ tôi với một mảnh pháo cắm ngay sát sống lưng.
Nằm trong lều, thỉnh thoảng Ngà cùng tiểu đội, quê ở Thanh Hóa lại vào nắn chân tôi và yêu cầu cử động.
Một ý nghĩ tiêu cực bám lấy tôi từ khi gặp lại anh em là nếu không may bị liệt chắc tôi tự sát. Dường như Ngà đọc được ý nghĩ đó, đã tịch thu trái lựu đạn US mà anh ấy cho tôi trong lần đi chuẩn bị Núi Dâu năm ngoái.

Hiệp định ngừng bắn chính thức có hiệu lực, những loạt pháo biển không còn bắn về Long Thạnh nữa. Cả ngày 27/1/1973 chúng tôi vẫn ở đất Long Thạnh sát với đầm Nước Mặn. Cho đến sáng ngày 28/1/1973 thuyền của dân chở tôi qua đầm về trạm phẫu thuật tiền phương.
Tôi còn nhớ mãi câu nói của anh Y sĩ trạm phẫu thuật tiền phương khi sử lý vết thương cho tôi “ Hồng phúc nhà ông thật lớn, mảnh pháo nó chê xương nên ăn cái thăn của ông, chỉ xang phải 1 cm thì ông tiêu rồi” Anh đưa cho tôi mảnh pháo và nói: “Giữ làm kỷ niệm”
Tôi được chuyển về bệnh viện tuyến trên với vết lõm trên lưng vì bị khoét đi phần thịt bị chín đường kính khoảng 3 cm.
Vết thương xoàng vậy mà mất đến 1 tháng cái ngón tay áp út mới duỗi thẳng ra được bởi hai đốt bị cháy khi giữ mảnh pháo nóng còn cái miếng khoét ở lưng thì sau hơn hai tháng mới liền sẹo.

40 năm trôi qua, những nét chính về trận đánh cứ điểm Long Thạnh Sa Huỳnh mà tôi tham gia giai đoạn đầu vẫn còn nguyên vẹn. Có một điều tôi biết được là những người lính của trung đoàn 141 đã phải chiến đấu và hy sinh dũng cảm khi chốt giữ Sa Huỳnh.

Đỗ Đặng Biên

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Cuộc chia ly màu đỏ

Ðó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai sắc hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ

Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa

Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy.
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt lonh lanh nóng bỏng sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đang bừng trên nét mặt
- Một rạng đông với màu hồng ngọc

Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Ðã toả sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những lá cây si
Và người chồng ấy đã ra đi...

Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau..."

Tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét...
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly...



TG: Nguyễn Mỹ

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

GIẢI PHÓNG TAM KỲ

Sau khi bàn giao các vùng giải phóng cho địa phương quản lý, sáng 20.3 các đơn vị bộ đội chủ lực tham gia giải phóng Tiên Phước chia làm 3 mũi tiếp tục tiến về Tam Kỳ. Trong đó, Trung đoàn 31 và Trung đoàn 36 phụ trách mũi phía nam; Trung đoàn 1 theo mũi chính diện từ Tiên Phước xuống; Trung đoàn 38 tiến công theo mũi phía bắc từ Quán Rường vào, nhằm bao vây không cho địch chạy thoát về Đà Nẵng.


alt
Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 31 đánh chiếm tỉnh đường Quảng Tín ngày 24.3.1975.

Đến sân bay Kỳ Nghĩa (Tam Ngọc, Tam Kỳ), Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 10 (đặc công), Đại đội 3, Tiểu đoàn 15 (công binh) được giao nhiệm vụ chiếm giữ cầu Tam Kỳ và tiến đánh giải phóng Chu Lai. Các đơn vị còn lại phối hợp với bộ đội địa phương và các Đội công tác của thị xã đánh chiếm tỉnh đường Quảng Tín. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 24.3, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh tỉnh đường Quảng Tín. Tam Kỳ trở thành đô thị đầu tiên ở khu vực đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ được hoàn toàn giải phóng.
Ông Huỳnh Văn Hạnh - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 (đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) hiện đang ở tại số nhà 77 Nguyễn Thái Học, An Mỹ, Tam Kỳ bồi hồi kể, trước thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở huyện Tiên Phước, các đơn vị bộ đội địa phương phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực tổ chức đánh địch ở các xã vùng đông huyện Thăng Bình. Chúng buộc phải co cụm lại rồi tháo chạy, tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân ta làm chủ trận địa, chia cắt liên lạc và ngăn không cho bọn chúng chi viện. Trước thời cơ đó, đêm 18.3 các Tiểu đoàn 70, 72, 74, Đại đội V12 Bắc Tam Kỳ và Bộ Tư lệnh tiền phương Tỉnh đội Quảng Nam do đồng chí Lê Hải Lý - Tỉnh đội trưởng Quảng Nam chỉ huy hành quân xuống vùng đông Thăng Bình.
Ngày 20.3 địch sử dụng 2 tiểu đoàn Cộng hòa, 2 tiểu đoàn Bảo an, 1 chi đoàn và 1 đội xe bọc thép chia làm nhiều hướng đồng loạt đánh vào các khu chợ Được - Hương Mỹ. Song trước sự hùng mạnh và dũng mãnh của Tiểu đoàn 72, quân địch thua tan tác, trận địa lại thuộc về quyền làm chủ của quân ta.
Ngày 22.3, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5 ra lệnh cho Tỉnh đội sử dụng toàn bộ lực lượng đang tác chiến ở vùng đông gấp rút quay vào phối hợp tiêu diệt quân địch ở phía đông thị xã Tam Kỳ. Đêm 22.3, Tiểu đoàn 72 sử dụng Đại đội 3 phối hợp cùng hỏa lực đánh sập cầu Kỳ Phú 2, sau đó rút về đóng quân ở thôn Vĩnh Bình, xã Kỳ Anh (nay là Tam Thăng, Tam Kỳ). Cùng ngày 23.3, Tiểu đoàn 72 phối hợp Đại đội V12 Bắc Tam Kỳ đánh chiếm trận địa pháo ở Núi Cấm và tiếp tục chiếm ngã 3 Kỳ Phú (nay là ngã tư Duy Tân - Phan Châu Trinh). Sau đó tiến thẳng ra ngã ba Nam Ngãi (nay là ngã tư Trần Cao Vân - Phan Châu Trinh) phối hợp cùng Trung đoàn Ba Gia (Trung đoàn 1, Sư đoàn 2) tiến đánh các cơ quan đầu não của địch.
alt
Bộ đội Phòng không bảo vệ bầu trời thị xã Tam Kỳ vừa được giải phóng.
Sáng ngày 24.3, các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực từ 3 hướng đồng loạt tấn công tỉnh đường Quảng Tín. Một mũi từ Tam Xuân (Núi Thành) ra, hướng thứ hai từ Kỳ Phú tràn lên, mũi còn lại từ sân bay Kỳ Nghĩa xuống cùng với lực lượng xe tăng từ Trà Cai tiến vào. Trước sức mạnh của lực lượng cách mạng, địch hầu như đã bỏ chạy gần hết, chỉ còn súng, mũ, áo quần và các phương tiện chiến tranh vứt bừa bãi trên các trục đường trong thị xã.
Tam Kỳ được giải phóng mà gần như không có tiếng súng. Tuy nhiên đến 15 giờ cùng ngày, địch dùng máy bay phản kích. Nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt. Bọn chúng thất bại thảm hại, quay đầu bay về hướng Đà Nẵng. Quân và dân Tam Kỳ nhanh chóng làm chủ hoàn toàn quê hương. Đặc biệt, tập trung kiểm soát không để xảy ra tình trạng cướp bóc, chú trọng ổn định tình hình an ninh chính trị, đảm bảo an toàn cho nhân dân.
Ông Trần Xuân Hợi, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 3, thuộc Tiểu đoàn 74 pháo binh, hiện ở tại khối phố 5, Phước Hòa (Tam Kỳ) cho biết, sau khi bàn giao cho địa phương quản lý, các đơn vị bộ đội chủ lực tiếp tục tiến về giải phóng các địa phương trong tỉnh. Trung đoàn 1, Trung đoàn 31 và Lữ 52 tiến quân dọc theo tuyến đường sắt; Trung đoàn 38 đi theo tuyến đường bộ Nam - Bắc; các đơn vị còn lại tiến quân theo tuyến đường ven biển. Tiểu đoàn 74 (Tỉnh đội Quảng Nam) được nhanh chóng điều ra giữ căn cứ Tuần Dưỡng; Tiểu đoàn 72 đóng quân chốt chặn tại ngã ba Kỳ Phú; Tiểu đoàn 70 tiến quân ra Bình Sa (Thăng Bình) để phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Thăng Bình; Tiểu đoàn 11 chiếm giữ sân bay Kỳ Nghĩa. Các đại đội độc lập được phân công đóng quân theo thế chân kiềng để bảo vệ thị xã Tam Kỳ trong những ngày đầu giải phóng. Riêng Tiểu đoàn 74 làm nhiệm vụ kiểm soát tuyến đường 1 bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các lực lượng bộ đội chủ lực và các đoàn xe vận tải từ miền Bắc vào hỗ trợ giải phóng miền Nam.

Nguồn : NGUYỄN ĐIỆN NGỌC

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Chiến dịch Tiên Phước - Phước Lâm

alt
       Quân giải phóng làm chủ Chi khu quân sự Tiên Phước.                  
Ảnh tư liệu

Ngày 10.3.1975, quân ta nhận lệnh đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu để mở màn chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.
Cùng thời gian này Quân khu 5 được giao nhiệm vụ đảm nhận đánh mở màn chiến dịch Tiên Phước - Phước Lâm nhằm phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm cùng các xã vùng Đông Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ, tạo thế bao vây uy hiếp tỉnh lỵ Quảng Tín. Sư đoàn 2 là đơn vị chủ công phối hợp với mặt trận Tây Nguyên và toàn chiến trường miền Nam tấn công quận lỵ Tiên Phước - Phước Lâm.
Địa bàn mặt trận kéo dài từ quận lỵ Phước Lâm đến Tam Kỳ, trong đó căn cứ Phước Lâm có 1 Tiểu đoàn Biệt kích, cứ điểm 211 án ngữ phía bắc bảo vệ quận lỵ Tiên Phước, phía đông có căn cứ Suối Đá gồm 1 Tiểu đoàn Bộ binh, 1 Đại đội Pháo binh và tăng thiết giáp ngụy, trên dãy Dương Con có căn cứ Chóp Nón.
Để chuẩn bị cho chiến dịch, cuối tháng 12.1974, Tiểu đoàn Công binh (Sư đoàn 2) được Tư lệnh Mặt trận giao nhiệm vụ làm công sự trận địa pháo và đường giao thông ở núi Vú Chị, Vú Em.
Qua hơn 2 tháng làm việc cật lực với hàng nghìn ngày công, tiểu đoàn làm được 6 trận địa pháo và hàng chục cây số đường từ hướng Sơn Cẩm Hà vào, sẵn sàng cho xe tăng của quân ta xuất kích và phục vụ công tác kéo pháo lên đồi.

Mặt trận được chia làm hai hướng: Phía bắc do Thượng tá Vũ Đình Nã - Sư đoàn phó làm chỉ huy trưởng, Phó Chính ủy Sư đoàn Trương Trung Thắng làm Chính ủy Mặt trận. Phía bắc được bố trí 3 trung đoàn, gồm Trung đoàn 31, Trung đoàn 38 và Trung đoàn 368 pháo binh cùng các đơn vị trực thuộc gồm Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 16, các lực lượng thông tin và Tiểu đoàn Vận tải, trong đó Trung đoàn 31 làm chủ công.
Phía nam do Đại tá Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Mặt trận phụ trách, Chính ủy Sư đoàn Mai Thuận làm Chính ủy Mặt trận. Phía này, được bố trí Trung đoàn Bộ binh 1, Lữ đoàn 52, Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 10 (đặc công). Ngoài ra, phía nam còn được tăng cường Trung đoàn 572 và Tiểu đoàn Vận tải.
Phía nam chia làm 2 hướng. Hướng bắc giao Trung đoàn 36 và Tiểu đoàn 10 (đặc công) đánh Phước Lâm, hướng đông giao Tiểu đoàn 8 (Lữ đoàn 52) đánh căn cứ Suối Đá, Trung đoàn 1 cùng 3 tiểu đoàn còn lại của Lữ đoàn 52 làm dự bị sẵn sàng đánh phản kích khi cần thiết. Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 31) đánh căn cứ 211, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 38) được giao nhiệm vụ đánh đại đội địch ở Chóp Nón.

Đúng 5 giờ sáng 10.3 quân ta đồng loạt nổ súng tấn công. Đến 12 giờ cùng ngày giải phóng hoàn toàn cứ điểm 211, căn cứ Phước Lâm, Dương Con và Suối Đá. Nhận được tin các cứ điểm trên địa bàn bị thất thủ, địch trong quận lỵ Tiên Phước rối loạn, hoang mang bỏ chạy. Thừa thắng xông lên quân ta tiến thẳng về giải phóng quận lỵ Tiên Phước vào lúc 16 giờ cùng ngày.
Sau khi giải phóng quận lỵ Tiên Phước, chỉ huy mặt trận chuyển Trung đoàn 31 về đóng quân ở Suối Đá; Trung đoàn 38 chốt giữ đỉnh Dương Con; Lữ đoàn 52 rút ra làm dự bị cho Trung đoàn 1 sẵn sàng đánh địch phản kích từ hướng Tam Kỳ lên. Tuy nhiên, do bị các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp cùng đơn vị bộ đội chủ lực chốt chặn và đánh trả quyết liệt ở các cửa ngõ nên địch không thể phản kích được.
Sau 10 ngày củng cố đội hình, sáng 20.3 các đơn vị nhận lệnh tiến đánh giải phóng thị xã Tam Kỳ. “Rút kinh nghiệm từ những trận đánh trước đây ở Nông Sơn - Trung Phước, Thượng Đức, lần này 
Tư lệnh mặt trận chỉ đạo đưa 10 khẩu pháo 122 ly và 18 khẩu pháo 85 ly lên các công sự trận địa pháo trên đỉnh núi Vú Chị, Vú Em. Đây là những địa điểm có ưu thế đã được Tiểu đoàn Công binh bí mật xây dựng từ mấy tháng trước.
Các khẩu đội pháo của ta đã tập trung hỗ trợ cho các mũi tiến đánh căn cứ Suối Đá và cứ điểm 211 (riêng căn cứ Phước Lâm không dùng pháo binh mà đánh theo kiểu đặc công). Từ trên cao các khẩu đội pháo của ta dễ bề kiểm soát, chủ động nã pháo yểm trợ các đơn vị bộ binh đánh chiếm các căn cứ của địch một cách nhanh gọn và dễ dàng.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra, lực lượng pháo binh của ta phải tháo rời các khẩu pháo để khiêng vác cho nhẹ, phần còn lại của khẩu pháo thì được lực lượng kéo lên đồi vào ban đêm và nhanh chóng lắp ráp phục vụ chiến dịch đúng kế hoạch và thời gian quy định”

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Những người chết không trẻ mãi


Ngày các chị các anh nằm xuống
vừa tuổi hai mươi
thôi cũng đành coi như một chuyến đi
về một thế giới khác


Làm sao nói được
thế giới ấy thế nào
những không gian ầm ào
những đường biên câm

Tắt phụt ngọn gió
rã rời từng mảnh vải dù
ong ong u u
những mắt nhìn xa vắng

Không màu mè không cao giọng
lặng im sờ sẫm lặng im
không hình hài
những bàn tay siết nhau không biết

Hai mươi nǎm ba mươi nǎm bốn mươi nǎm
tuổi chết dần hơn tuổi sống
những người chết già đi chầm chậm
đôi lúc họ quay về nhìn trần gian qua một lớp kính mờ.


Thanh Thảo